Thứ Tư, 18 tháng 11, 2015

Vịnh HỒ GƯƠM [HỒ HOÀN KIẾM]


Vua trả Gươm thần dấu tại đây?
Trăng chìm hỏi nước, nước cười mây.
Sử ghi đất Việt người nam giữ,
Đầm ẩn Rồng thiêng dấu phượng bay.[1]
Kiếm thánh ngàn xưa chờ ai đó ?
Rùa thần muôn thuở vẫn hồn nầy ...
Bên hồ chợt thấy lòng rung cảm,
Ngây ngất hương thừa chợt tĩnh say ?..
Duong Lam


[1] Năm 1010 tháng 8, tương truyền khi vua Lý Công Uẩn dời kinh đô từ Hoa Lư đến đất Đại La thì thấy rồng bay lên nên đặt tên kinh đô mới là Thăng Long, [bây giờ là Hà nội]


Lịch sử Hồ Gươm

Hồ Gươm mang tên Hồ Hoàn Kiếm vào thế kỷ 15. Gắn liền với truyền thuyết Rùa thần đòi gươm ghi lại dấu ấn thắng lợi trong cuộc chiến tranh dân tộc chống quân Minh (1417-1427) do Lê Lợi lãnh đạo. Theo truyền thuyết lưu lại, khi Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn (Thanh Hoá) tình cờ có được một lưỡi gươm, tiếp sau đó Ngài nhặt được chiếc chuôi gươm ở một thửa ruộng cày, Ngài ghép chúng lại thành một thanh gươm và đặt tên là Thuận Thiên. Thanh gươm Thuận Thiên ở bên Lê Lợi trong suốt thời gian khởi nghĩa cho đến khi Ngài lên làm Vua… Một lần nhà Vua dạo chơi bằng thuyền trên hồ bắt gặp một cụ Rùa lớn nổi lên bơi về phía Ngài, bấy giờ Vua liền rút gươm ra để xua Rùa đi nơi khác, nhưng Rùa bất ngờ ngậm lấy thanh gươm rồi lặn mất xuống lòng hồ. Từ đó hồ được đặt tên là Hồ Hoàn Kiếm…cho đến bây giờ.


Di tích liên quan

Tháp Rùa
Cầu Thê Húc
Tháp Hoà Phong


Tháp Rùa: nằm ở trung tâm hồ, được xây dựng trong khoảng từ giữa năm 1884 đến tháng 4 năm 1886, trên gò Rùa và chịu ảnh hưởng kiến trúc Pháp [8]. Tháp hình chữ nhật. Tầng một: chiều dài 6,28 mét (của 2 mặt hướng Đông và Tây), mỗi mặt có 3 cửa. Chiều rộng 4,54 mét, mỗi mặt có 2 cửa. Các cửa đều được xây cuốn, đỉnh thuôn nhọn. Tầng hai: chiều dài 4,8 mét, rộng 3,64 mét và có kiến trúc giống như tầng một. Tầng ba: chiều dài 2,97 mét, rộng 1,9 mét. Tầng này chỉ mở một cửa hình tròn ở mặt phía Đông, đường kính 0,68 mét, phía trên cửa có 3 chữ Quy Sơn tháp (tháp Núi Rùa). Tầng đỉnh có nét giống một vọng lâu, vuông vức, mỗi bề 2 mét.

Đảo Ngọc Sơn: nằm ở phía Bắc hồ, xưa có tên là Tượng Nhĩ (tai voi). Vua Lý Thái Tổ đặt tên là Ngọc Tượng khi dời đô ra Thăng Long và đến đời Trần thì đảo được đổi tên là Ngọc Sơn. Một nhà từ thiện tên là Tín Trai đã lập ra đền Ngọc Sơn trên nền cung Thuỵ Khánh cũ (bị Lê Chiêu Thống cho người đốt năm 1787 để trả thù các chúa Trịnh)[9]. Đền Ngọc Sơn thờ thần Văn Xương là ngôi sao chủ việc văn chương khoa cử và thờ Trần Hưng Đạo.

Cầu Thê Húc: dẫn đến cổng đền Ngọc Sơn, do danh sĩ Nguyễn Văn Siêu cho xây dựng vào năm 1865. Tên của cầu có nghĩa là "nơi đậu ánh sáng Mặt Trời buổi sáng sớm"

Tháp Bút: trên bờ hướng Đông Bắc hồ, được xây dựng từ năm 1865, bao gồm bảy tầng. Trên đỉnh là tượng trưng cho một ngòi bút đối lên trời, phần thân có khắc ba chữ Tả Thanh Thiên (viết lên trời xanh), thân tầng thứ ba của tháp có khắc một bài Bút Tháp Chí.

Đài Nghiên: trên bờ hướng Đông Bắc hồ, được xây dựng từ năm 1865, là phần không thể thiếu của Tháp bút. Ba chân kê nghiên là hình tượng ba con cóc. Trên thân nghiên khắc một bài Minh, gồm 64 chữ Hán.

Tháp Hoà Phong: trên bờ hướng Đông hồ, là di vật còn sót lại của chùa Báo Ân (bị dỡ bỏ năm 1898) [10]. Tháp cao ba tầng, cửa theo bốn hướng Đông Tây Nam Bắc, có các chữ Hán như: Báo Đức môn, Báo Ân môn, Hoà Phong tháp, Báo Thiên tháp, ứng với mỗi cửa của tháp. Tầng một to và cao hơn hai tầng trên cùng. Bốn mặt của tầng hai hình Bát quái. Tầng ba ghi "Hòa Phong Tháp".

Đền Bà Kiệu: trên bờ hướng Đông Bắc hồ, được xây dựng từ thời Lê Trung Hưng, là một di tích hoàn chỉnh nhưng do việc mở đường nên đã tách làm hai phần, Tam quan ở sát bờ hồ, còn Đền thờ ở về phía bên này đường. Toạ lạc theo hướng Nam. Tam quan và Đền thờ (Nhà đại bái) đều có kiến trúc ba gian xây gạch, lợp mái ngói ta. Ngôi đền thờ ba vị nữ thần là Liễu Hạnh công chúa, Đệ nhị Ngọc nữ và Đệ tam Ngọc Nữ.

Nhà Thuỷ Tạ: trên mặt bờ hồ hướng Tây Bắc, là một loại hình kiến trúc quan trọng và đặc sắc trong kiến trúc truyền thống Việt Nam, là địa điểm diễn ra các lễ của Hoàng triều hoặc thờ cúng Thần linh hay các vị Hoàng đế. Ngoài ra, Nhà Thuy Tạ còn là chốn phục vụ nhu cầu ăn chơi cho tầng lớp thống trị, hậu cung, ly cung, biệt cung... có kiến trúc tương đối đơn giản, được xây dựng bên bờ mặt nước như hồ, ao, sông, suối.

<bài viết được chỉnh sửa lúc 17.09.2012 22:27:47 bởi duonglam >
 
=============================================
 
 Mơ màng tiếng ngựa hí bay qua...


Chỉ còn riêng lại cõi lòng ta,
Một nỗi niềm riêng một chén trà.
Sương bạc mơ màng đêm giá lạnh,
Nhạn hồng mòn mõi bóng mây xa.
Thơ vương khói toả sầu vương mộng,
Rượu chếnh tình say bóng xế tà,
Phố núi đèn khuya xin ngủ trọ ,
Mơ màng tiếng ngựa hí bay qua...

Tú lang thang
===========================
 
 
NGƯỜI KHÁCH CŨ

Ta vẫn khách lữ hành ngày tháng cũ,
Hồn rêu phong còn in đậm dấu giày.
...Đã xa lắm của môt thời đạp đất,
Kiếm ngang trời phiêu bạt giữa binh đao!

…Nay dừng lại giữa trời mây non nước,
Còn ai đây ? Mời chén rượu tương phùng!
Núi lặng lẽ ... Ngàn năm trơ vách đá,
Trăng im lìm ... Chờ đợi khách qua sông...

Tú lang thang
===================================
 
 
Con biết làm sao trả được công ?...

Chuông gỏ bên chùa vọng Sắc Không,
Vu Lan muôn vạn cánh hoa hồng.
Ơn cha đức trọng cao hơn núi,
Nghĩa mẹ tình dầy thẳm tựa sông.
Vất vả mẹ nằm bên chiếu ướt,
Gian nan cha lội giữa nương đồng.
Ơn cha nghĩa mẹ như trời đất,
Con biết làm sao trả được công ?...

Tú lang thang 
===========================
 
 
LIỂU CHƯƠNG ĐÀI


Liểu Chương Đài hỡi ! Liểu Chương Đài,
Ca nữ ngày xuân hát tăng ai,
Mi biếc mắt xanh màu giếng ngọc,
Môi hồng má thắm sắc hươngtrời ?
Ngày đi tin nhạn ngàn quan tái,
Năm đợi thơ chàng vạn dặm khơi.
Cành liểu bên hồ xưa còn đó,
Gặp nhau tim đập...chẳng nên lời ...

Dương Lam


Điển Tích Truyện Kiều - Liễu Chương Đài



Khi về hỏi liễu Chương đài
Cành xuân đã bẻ cho người chuyền tay .[Nguyen Du]


Đời vua Đương Huyền Tông có chàng tú tài họ Hàn , nổi tiếng là danh sĩ, lên kinh đô Trường An chuẩn bị thi tiến sĩ. Chàng ta thuê phòng trọ ở phố Chương đài, phía Tây kinh thành.

Cạnh bên nhà họ Hàn là nhà Liễu thị, một ca nữ tài sắc đã làm đắm say lắm tao nhân mặc khách, nhưng không ai dám ngỏ tình, vì giai nhân đã có vị tướng quân họ Lý bảo bọc. Mỗi lần tướng Lý đến thăm Liễu thị, đều có mời Hàn sang chơị. Hai người đối ẩm trong giọng ca tiếng đàn nàng Liễụ.. Phần Liêũ thi, những lúc ở nhà một mình, lại thường nhìn qua kẽ vách dòm sang nhà Hàn. Liễu thị thấy Hàn tuy nghèo khó, nhưng lại rất phóng khoáng, hiếu khách. Nhìn trộm lâu ngày, thấy thương, rồi thầm yêu chàng tú tàị. Hôm đó, Lý tướng quân đến, Liễu thị đánh bạo, thưa:

- Hàn Tú tài là người có hoàn cảnh khó khăn nhưng lại rất hào sảng. Tương quân đã kết thân với chàng ta, thì thiếp nghĩ cũng nên tìm cách giúp đỡ.

Tướng Lý gật gù, cười độ lượng, truyền Liễu thị bày tiệc, rồi mời Hàn sang nói chuyện:

- Hàn Tú tài là bậc danh sĩ ; Liễu thị là kỹ nữ tài sắc. Danh sĩ mà sánh duyên cùng tài sắc chẳng phải là xứng đôi lắm sao?. Ta đứng chủ hôn cho đôi lứa.

Cả hai người được gá duyên đều ngây người trước thái độ bao dung của vị tướng quân. Qua hồi xúc động, đôi tân lang lạy tạ ơn vị tướng quân " fair play " nàỵ Sau đó, Lý tướng quân từ biệt , hai người sống chung với nhau như vợ chồng, tình yêu tha thiết.

Tú tài Hàn tuy là người lỗi lạc, nhưng thi tiến sĩ lại không đỗ. Vợ chồng không lấy thế làm điều khổ tâm, vẫn thương yêu nhau trong cuộc sống hàn vị. Bốn năm sau, có quan Tiết độ sứ Thanh Châu là Hầu Di Dật, từ lâu ngưỡng mộ tài năng của Hàn , đã tâu với vua xin chàng về làm tòng sự. Hàn phải về Thanh Châu nhận chức, hẹn với Liễu thị khi cuộc sống ổn định, sẽ trở về lại kinh đô rước nàng.

Nhưng rồi công việc tất bật, sau ba năm Hàn không về kinh được, gởi cho nàng lá thư với nỗi phập phồng nàng kỹ nữ đã ôm cầm sang thuyền khác:

"Chương đài Liễu, Chương đài Liễu
Tích nhật thanh thanh kim tại phủ
Túng sử trường điều tự cửu thùy
Dã ưng phan chiết ta nhân thủ ".
(Liễu Chương đài, Liễu Chương đài
Còn chăng thuở trước dáng xanh tươi
Thướt tha vẫn giống như năm nọ
Vin bẻ đành tay kẻ khác rồi!

Đọc thơ, Liễu thị hiểu là chồng âu lo mình phụ bạc. Nàng đáp thư:

"Dương liễu chi, phương chi tiết,
Khá hận niên niên tặng ly biệt.
Nhất diệp tùy phong hốt báo thu
Túng sử quân lai khởi kham chiết ".
(Nhành dương liễu, trạc xuân xanh
Đeo nặng bao năm nỗi biệt tình
Chiếc lá gió đưa, thu đà tới
Chàng về chưa chắc được vin cành.

Sau đó, Liễu thị xuống tóc vào nương cửa Phật, tránh lũ bướm ong quấy nhiễu.

Thương cho nàng. đã vào chùa mặc áo nâu sồng mà vẫn không yên câu kinh tiếng mõ. Phiên tướng Sa Tra Lợi đang tại chức Xạ Kỵ tướng quân của vua Đường Huyền Tông, xông vào thiền môn, bắt Liễu thị về làm thiếp.

Thời gian cũng qua đị.

Mươì hai năm sau, Tiết độ sứ Hầu Di Dật về kinh công cán, Hàn tháp tùng. Về đến Tràng An, Hàn thăm dò tin tức mới biết vợ mình đã sa vào tay kẻ khác. Thế cô, phận nhỏ đành im tiếng. Một hôm, đang tảng bộ trên phố thì gặp một cổ xe ngựa thong thả đi quạ Trên xe chợt có giọng đàn bà vọng ra:

- Có phải Hàn viên ngoại ở Thanh Châu đó không ?.
Nghe giọng nói, Hàn rúng động, ấp úng chưa kịp trả lời, thì người trên xe tiếp:

- Ngày mai, thiếp cũng sẽ qua đường này. Xin chàng hãy đến đây cho thiếp trông thấy lần cuối.

Hôm sau, y hẹn, Hàn đứng chờ đợi tình. Chiếc xe đến, từ trên đó ném xuống chiêc khăn hồng bọc ngoài một hộp sáp thơm. Giọng đàn bà thổn thức:

- Cảm ơn chàng, em đã trông thấy chàng lần cuốị ...Vĩnh biệt phu quân.

Xe vụt chạy nhanh mất hút. Đêm đó, Hàn phải dự tiệc với hàng quan chức ở kinh thành nơi một tửu lầu sang trọng. Trong tiệc, mọi ngươì đều cười nói vui vẻ chỉ có mình Hàn mặt ủ mày ê . Có người gạn hỏi nguyên nhân; Hàn phải đem chuyện mình kể trong bàn tiệc. Hàn vừa dứt lời, viên tướng trẻ Hứa Tuấn ném mạnh chén rượu xuống đất đánh "xoảng", cất giọng oang oang:

- Giữa kinh thành này mà cũng có quan triều đình làm loạn vậy sao ? Tiểu nhân này, tuy tài hèn sức mọn nhưng cũng xin được ra tay, đưa phu nhân về cho Hàn viên ngoạị Xin Hàn viên ngoại hãy viết ít chữ để làm tin với phu nhân.

Hàn chép lại bài thơ Liễu thị đã gởi cho mình mười lăm năm trước khi vào qui y cửa Phật. Hứa Tuấn nhận thư, phóng ngựa đến tư dinh của Sa Tra Lợị Tướng Phiên này đang vắng nhà. Hưá Tuấn lớn tiếng với đám gia nhân:

- Tướng quân bị ngã ngưạ, thương tích nặng, e khó qua khỏị , Ngài bảo ta về rước phu nhân cho ngài gặp mặt.

Hứa Tuấn phóng ngựa chạy thẳng vào dinh. May mắn, Liễu thị đang sắp sửa nhờ ba thước lụa kết liễu đời mình., thì nhận được bài thơ tình của mình đã viết cho tình lang. Hứa Tuấn đỡ bà lên mình ngựa, phóng như bay trở về tửu lầụ… Có ai đang hồi hợp chờ đợi, lồng ngực thình thịch liên hồị... Rồi, hai trái tim cùng chung nhịp đập.

..[Cành liểu bên hồ xưa còn đó,
Gặp nhau tim đập...chẳng nên lời .]
 
=================================
 
 
THƠ-RƯỢU



Đề THƠ chúc tết tặng thay tiền

Chút RƯỢU đưa đường đón tất niên

Đếm thử bầu THƠ bao nặng nhọc

Đong xem túi RƯỢU mấy ưu phiền

Ngâm THƠ với RƯỢU đùa THƠ thánh

Đổ RƯỢU vào THƠ bảo RƯỢU tiên

Ví thử xoay THƠ thành bạc nhỉ

Thà đem đổi RƯỢU uống vơi ghiền.

TUYỆT THẾ NHÂN GIAN




THƠ RƯỢU HOA EM



Thơ đổi rượu ngâm uống đả ghiền,

Ruợu đùa thơ thiệt quả thần tiên.

Vần thơ xướng họa vui sum họp,

Chén rượu ngâm nga đuổi muộn phiền,

Rượu uống tàn đông chờ hội tết,

Thơ đề xuân lại đón tân niên.

Nửa đêm hoa nở thơ thành rượu,

Thơ -Rượu -Hoa -Em - túy ngọa tiền...

Tú lang thang 
 
===============================
 XƯỚNG
THÀNH PHỐ HOA

Cao ngất trời mây cõi mộng hoa
Rừng thông bát ngát thoảng hương hoa
Lâm Viên lộng gió cao nguyên lạnh
Đà Lạt mờ sương thành phố hoa
Mặc khách say sưa miền sơn cước
Tao nhân nhàn nhã chốn phù hoa
Đa tình bao kẻ khi rời bước
Vương mãi bên mình một cánh hoa.

Tuyệt thế nhân gian

MỐI DUYÊN SÔNG NƯỚC

Bờ sông cỏ phụng mọc như hoa
Bến nước thu phong trổ bóng hoa
Thuyền gỗ lờ đờ người kiếm cá
Xe bò loáng thoáng ai xem hoa
Chàng trai dưới sóng tay chài cá
Người đẹp trên bờ mắt ngắm hoa
Ngước mặt nhìn lên không chớp mắt
Đêm về mãi nhớ bóng nàng hoa

Đông Hòa

EM & HOA

Hôm ấy gặp em giữa chợ hoa
Ngẩn người cứ ngỡ mắt ta hoa
Mình ngà vóc ngọc mờ trăng lạnh
Mắt phượng mày ngài tỏ dáng hoa
Các cụ ông ngồi xâu giỏ cước
Mấy bà lão đứng xỏ đài hoa
Khách du ngơ ngẩn dừng chân bước
Đồng thốt nên lời "Đẹp tựa hoa!"

Ðông Tà - CSL

KIẾP HOA

Tô điểm cho đời rạng rỡ hoa ,
Cuộc đời ngắn ngủi cũng là hoa .
Sáng cười trong nắng khoe hương sắc ,
Đêm khóc trên cành rũ lá hoa .
Người quý ươm trồng nơi cảnh đẹp ,
Kẻ cần buôn bán chốn phồn hoa
Cũng là thân phận trời sinh đó ,
Sao chóng phai tàn hỡi kiếp hoa !

vivi02


CẢM CUỘC ÐỜI


Sao người mộng mị cảnh xa hoa
Có sướng chi đâu kiếp bướm hoa
Giữa chốn lợi danh lo tá hỏa
Nơi phường lừa lọc nhiễm ba hoa
Mịt mù lối sống thành tha hóa
Bỏ mặc nhân tâm tối sắc hoa
Chẳng dám luận bàn câu phước họa
Chỉ xin giữ lại chút lòng hoa...
BHD2

KIỀU HOA

Hiếm được như nàng một dáng hoa
Bao đời quân tử mộng tìm hoa
Anh hùng Từ Hải cờ sai nước
Thục nữ Thúy Kiều chịu tiếng hoa
Hận kẻ bạc tình xa lệ nhụy
Thương người tri kỷ xót tim hoa
Chữ TRINH ba bảy đường chung thủy
Tắm nỗi đau đời vẫn vẹn hoa.

Kim Giang

ĐÓN TẾT NGẮM HOA

Vui tết cùng em thưởng lãm hoa
Lầu son gác tía một rừng hoa
Lả lơi hoa thắm, tha hồ . . . Bướm
Lơ lửng bướm bay, mơm mởm . . . hoa.
Kia trúc, kia mai khoe sắc thắm
Đây lan, đây cúc mượt mà hoa
Gió xuân thoang thoảng mùi hương phấn
Ngây ngất bên nhau đẹp tựa hoa

Trần Mạnh Hùng


EM LÀ THƠ NỞ HOA

Có phải em là thơ nở hoa ?
Xuân về cánh bướm lượn vờn hoa
Trăng khuya rượu chếnh vùi hương tóc
Chiều muộn thơ tràn thoảng phấn hoa
Kỳ ngộ gió đưa mây hợp phố
Vô duyên nước chảy mộng phù hoa
Đêm xuân gối mộng say hồn khách
Bỏ áo rời xiêm rối nguyệt hoa...

Tú lang thang 
==========================
 
 
THƠ ĐƯỜNG Tú lang thang 28.09.2012 02:06:07 (permalink)
0
Bình luận bằng thơ thất ngôn bát cú:
108 anh hùng Lương sơn bạc

16 - MỘT VŨ TIỄN -TRƯƠNG THANH *

Hiên ngang mãnh hổ địch quần hùng
Thảo khấu phen này quyết chẳng dung
Thoái ngựa vờ lui gươm mới tuốt
Đà đao giả chạy đá liền vung
Anh hùng dấn tới mình tê bại
Hảo hán xông vào óc vỡ tung
Chinh chiến bao năm từng bất bại
Giang hồ bày kế nhập theo cùng.

Tuyệt thế nhân gian


Trương Thanh mãnh tướng quả anh hùng
Đối trận sa trường thế chẳng dung
Ném đá thần sầu bao kẻ khóc
Hồi thương qủi khốc lắm người run [1]...
Giang hồ trên ngựa chưa từng bại
Hào kiệt dưới sông phải ngã tung [2]
Duyên gặp Quỳnh Anh [3]mê quận chúa
Mến Lương sơn bạc quyết theo cùng

Tú lang thang


[1] ngoại vận]
[2]Trương Thanh bị Ngô Dụng dùng mưu phục binh bắt dưới nước...
[3]quận chúa Quỳnh Anh một kỳ nữ tài sắc...

Có bài thơ ca tụng quận chúa Quỳnh Anh sau đây cùng thưởng thức :

Giai nhân hồi mã tú kỳ dương
Sĩ tốt tướng quân cá cá mang
Dẫn nhập trường lâm nhân bất kiến
Bách hoa tùng lý cách hồng trang .


Giai nhân quay ngựa bóng cờ bay
Tướng sĩ ai ai vội vã thay
Khuất nẻo rừng xa người chẳng thấy
Trăm hoa che khuất bóng hồng đây .



* Trương Thanh (张清) là một trong 36 Thiên Cang Tinh nằm trong 108 anh hùng Lương Sơn Bạc, sao Thiên Tiệp Tinh, biệt hiệu là Một Vũ Tiễn (没羽箭), có biệt tài ném đá rất cao cường.
Đánh bại một lúc 14 viên tướng của Tống Giang...
Trong trận đánh Điền Hổ, Trương Thanh đã giả dạng một người khác và đột nhập vào quân Điền Hổ, rồi lấy quận chúa Quỳnh Anh,cùng Quỳnh Anh bắt Điền Hổ...
<bài viết được chỉnh sửa lúc 30.09.2012 02:17:02 bởi duonglam >
 
=========================================
 
 
 
Bình luận bằng thơ thất ngôn bát cú:
108 anh hùng Lương sơn bạc


13-HOA HÒA THƯỢNG LỖ TRÍ THÂM *



Vô tình mắc nạn trốn lên chùa
Tính khí ngông nghênh lại thích đùa
Khoác áo cô dâu còn bỡn cợt
Vào vai sư phụ cố ăn thua
Thương đời chán phật vung tay đấm
Cứu bạn trừ gian xách gậy khua
Sức vóc rung cây, cây bật gốc
Một đòn thuyền trượng chống quan vua.

Tuyệt thế nhân gian


Chẳng phải thích tu sống tại chùa
Là Hoa Hòa thượng thích trêu đùa
Mâm ăn nguyên cổ sư ù chạy
Rượu uống đôi thùng bạn né thua
Tay chuyển càn khôn cây bật gốc
Gậy vần nhật nguyệt gío mưa khua
Lên Lương Sơn Bạc làm Đầu lãnh
Trượng múa trời nghiêng...há ngán vua ?..

voduonghonglam



*Lỗ Trí Thâm 鲁智深, tên thật là Lổ Đạt ,biệt hiệu là Hoa Hòa Thượng là một trong 108 anh hùng Lương Sơn Bạc, một trong 36 Thiên Cang Tinh, vị trí : 13 ,
-Đệ tử Trí Chân trưởng lão ở Ngủ đài sơn , có sức khỏe cường tráng, nhổ bật gốc dương liễu ở trước chùa Trấn Quốc.
-Chức vụ : Đầu lĩnh Nhị long sơn
-Binh khí: Thuyền trượng,giới đao.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 30.09.2012 05:08:08 bởi duonglam >
  ===============



     

27 Quê hương...

27   Quê hương...





Chiều mưa đêm gió Hoàng sa lạnh,
Tráng sĩ ngồi nghe buốt lạnh lòng.
Kiếm gỏ sao khuya chờ biển tạnh,
Gươm mài núi khuyết đợi trăng trong.
Vua Hùng dựng nước ngàn năm trước,
Dân Việt chung xây một chữ đồng,
Hẹn quyết ngày mai thề lấy lại,
Tấc vàng tất đất của cha ông…

Tú lang thang

====================================


TÌNH BÍ BẦU
                              Bầu ơi thương lấy bí cùng ,
                        Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn…
                                          [ca dao]


Tình thân ý trọng nghĩa thâm sâu,
Thương quá đi thôi phận bí bầu.
Núp bóng tre ngà thân chẳng tiếc,
Nương giàn hoa lý biết đâu sầu.
Trò đời lắm chuyện đen thay trắng,
Cõi thế bao lần đá hóa châu?
Khác giống nhưng giàn chung một lối,
Bầu ơi thương bí chụm nhau đầu…
Tú lang thang
 
=========================================
 ĐỪNG HỔ DANH MANG TIẾNG LẠC HỒNG.



Dù Bắc Trung Nam vẫn một lòng,
Ngàn xưa không thẹn với non sông.
…Cờ rung súng thủ ngừa phương bắc,
Kiếm bạt gươm mài giữ biển đông.
Một cõi trời Nam lừng nỗi tiếng,
Toàn dân nước Việt nhớ tâm đồng.
Làm người phải biết ơn Tổ Quốc,
Đừng hổ danh mang tiếng Lạc Hồng…
 Tú lang thang 
 
====================================
 
 
Quê hương...


Ra khơi sóng tỏa muôn trùng thẳm,
Biển biếc trời xanh núi ngút ngàn.
Côn đảo mây che hè nắng đỗ,
Trường sa mưa tạnh buổi đông sang.


Đảo Đá Tây [Trường sa]
Ngựa hồ gió lạnh hí phương bắc, [1]]
Chim Việt đậu cành chọn hướng nam.
Ta  giống Rồng Tiên dòng Lạc Việt ,
Làm sao tỏ mặt với lân bang…
Tu lang thang


Chú thích:[ nguồn vikipedia... ]

[ 1 ]Hồ mã tê Bắc phong, Việt điểu sào Nam chi.

 Nghĩa là: Ngựa Hồ hí gió Bắc, Chim Việt đậu cành Nam.

Chim Việt là loài chim sinh ở đất Việt, thuộc phía nam nước Tàu. Mỗi năm cứ đến đầu thu, từng đàn chim Việt bay sang phương Bắc để kiếm ăn. Vì khi thu sang, phương Bắc có nhiều chỗ có giống lúa mới vừa chín…dễ kiếm ăn.
Tuy sang phương Bắc nhưng đàn chim Việt vẫn nhớ quê hương. Muốn làm ổ, chúng chọn cành cây chĩa về phương Nam, tức là hướng quê nhà mà chúng sinh trưởng.
Chim Việt tức (Việt điểu) để chỉ chim luôn nhớ quê hương cố quốc.

Ngựa Hồ là ngựa ở nước Hồ. Nước này ở về phương bắc nước Tàu mà ngày xưa người Tàu thường cho là nước man rợ hay cũng gọi là Phiên quốc. Ngựa Hồ cao lớn, leo núi rất giỏi, chạy rất nhanh. Người Trung Quốc thường mua về làm ngựa chiến . Nước Hồ vốn ở xứ lạnh , khi đông về, gió bấc thổi, tuyết rơi lả tả, gió lạnh tê tái.

Ngựa Hồ tuy về Trung Quốc, là nơi tương đối ấm áp nhưng vẫn nhớ đến đất Hồ , mỗi độ đông về khi có gió bấc lạnh [là gió từ phương bắc thổi đến, ngựa cất tiếng hí lên thê thảm tỏ lòng nhớ cố quốc.

"Chim Việt ngựa Hồ" trở nên thành ngữ, có nghĩa bóng là loài vật mà cũng không quên nơi quê cha đất tổ , dù ở nơi đất khách quê người.



<bài viết được chỉnh sửa lúc 13.03.2012 09:26:46 bởi duonglam >
 
========================================
 
 THAM NHŨNG HỌC LÀM SANG



Môt bầy tham nhũng học làm sang,
Mua tước tham quyền tạo nấc thang.
Đâu biết lên voi là xuống chó ?
Mãi say hốt bạc với moi vàng…
Tâm suy hãm bạn lòng vô cảm,
Trí nghĩ hiếp người dạ bất khang.
Bụng bự đít teo, tay khệnh khạng,
Mặt người da thú quá lan tràn…


Tú lang thang
 
====================================
 Đức thánh
(Họa Sông lam của Khắc Chiến)

Nhà trống vườn không tướng giỏi chèo
Bất thần Vạn Kiếp tiếng hò reo
Chương Dương múa kiếm Tàu thua chạy
Hàm Tử công thành giặc chết treo
Hưng Đạo lừng danh đe Bắc bộ
Thoát Hoan khiếp vía sợ Nam triều
Bạch Đằng hải chiến đời ghi nhớ
Đánh bại lương thuyền bỏ lại neo

Vancali 3.10.12





UY DŨNG TRỜI NAM



Vua tướng quân Nam giỏi lái chèo,

Ngàn xưa còn dậy tiếng hò reo.

Đằng giang giữa nước bêu đầu giặc,[1]

              Khương thượng trận tiền cổ địch treo. [2]            

Bao thuở oai linh quân Bắc khiếp,

                                    Ngàn năm uy dũng tướng Nam triều.                                        

Nếu còn đắc ý toan xâm chiếm,

Hạm  nát thuyền tan há được neo ???


Tú lang thang


Chú Thích

[1] Tại trân thuỷ chiến Bạch đằng giang,quân Nam đã ba lần beo đầu giặc Hán,Tống và Nguyên trên sông nước…

[2] Đồn Khương Thượng bị quân Tây sơn vây hãm, chủ tướng Mãn Thanh Sầm
nghi Đống tự vẩn.





Trận thuỷ chiến Bạch Đằng 

=============================


TỰ TU


Hồng trần lắm lúc muốn đi tu,
Vì ngại trần gian gió bụi mù.
Kinh Ngọc kinh Vàng sâu vạn lý, [1]
  Sách Thiền sách Phật biển thâm u.
Chẳng đi , chẳng đến - đâu lo nón, [2]
Không nắng ,  không mưa - khỏi phải dù.
Rượu trắng nếp nhà ngâm tự cất,
Thanh bần lạc đạo được nhàn cư…
Tú lang thang
===========================
 

 
============================
 
 
 
========================


ĐÊM NẰM NGHE LẠNH GIÓ MƯA RƠI

Sầu đong lắc mãi chẳng sao vơi,
Biết trách ai đây lấy nửa lời ?
Gió thổi thuyền trôi muôn dặm nẽo,
Buồn dâng mây nỗi mấy trùng khơi.
Ngày đi bến cũ còn mong đợi,
Buổi đến thề xưa lỡ hẹn rồi…
Nhớ mẹ chín chiều lòng quặn thắt,
Đêm nằm nghe lạnh gió mưa rơi…

Tú lang thang
 
==========================
 
 
UỐNG MÃI CHƯA VƠI...


Đêm nằm nghe gió lạnh mưa rơi,
Lối cũ thuyền xưa tách bến rồi .

Trăng bạc mơ hồ in bóng tuyết,
 Nhạn hồng mòn mõi lướt xa khơi .
 Lối ngàn ngỏ trúc trăng im tiếng,

 Dặm liểu bờ sương gió chẳng lời .

                             Quán núi bên đường xin ngủ trọ,                                

Rượu tràn ly … uống mãi chưa vơi…



Tú lang thang
 
===============================
 
 
LUẬN BÀN THẾ SỰ



Núi đứng bên trời gọi gió mây,
Luận bàn thế sự đổi vần thay .
Rồng thiêng đâu ngại ngày giông bão!
Hào kiệt chi màng chuyện đắng cay?
Cuộc thế đão điên thôi kệ thế,
Vần thơ thờ thẩn cứ thơ bay.
Ngẫm thời Liệt quốc… sang Đông Hán…
Ngoãnh lại chưa bằng một giấc say...


Tú lang thang
================================

HẢI VÂN QUAN


Hải vân – Ai đã đến nơi đây ?

Đệ nhứt kỳ quan giữa biển mây.

Biển lượn chân đèo mây giỡn sóng,

Rừng leo quanh núi khỉ đùa cây.

Đường qua quan aỉ sương giăng tỏa,

Ngỏ đến kinh đô gió lạnh đầy.

Trăng bạc mơ màng qua xóm vạn [1]

Ru hồn lữ khách thấy ngây …ngây...

Tú lang thang


[1] xóm vạn: xóm dân làm nghề chài lưới bên sông...


Giới thiệu thêm về Hải vân quan,



Ngay trên đỉnh dèo, dấu vết tiền nhân vẫn còn để lNại: những cửa đèo và thành lũy đắp ngang. Cửa trông về phủ Thừa Thiên đề ba chữ: Hải Vân Quan, cửa trông xuống Quảng Nam đề Thiên hạ đệ nhất hùng quan (đây là từ đề tặng của vua Lê Thánh Tôn khi dừng chân ngắm cảnh nơi này). Thật vậy, từ Nam chí Bắc, không có nơi nào đèo cao chênh vênh, cảnh đẹp lung linh, huyền ảo như Hải Vân. Đường đèo quanh co, khúc khuỷu men theo triền núi, uốn lượn như dãi lụa vắt ngang giữa trời mây. Chỉ căn cứ vào tên gọi, cũng đủ hình dung Hải Vân là thế giới của gió và mây. Gió như đàn ngựa giong ruổi dặm trường, mây như từ trên trời tuôn xuống. Bước chân người đến đây như lạc vào cõi nào khác lạ, huyền ảo khói sương. Cao Bá Quát, một nhà thơ một đời chỉ biết lạy hoa mai (Nhất sinh đê thủ bái hoa mai) cũng đã phải sững sờ: Nhất bích ngưng vi giới, Trùng vân nhiễu tác thành (Biếc một dãi làm mốc, Mây muôn trùng dựng thành). Cũng từ đây, vào những ngày đẹp trời, du khách có thể thấy rõ toàn cảnh thành phố Đà Nẵng, Cảng Tiên Sa - Bán đảo Sơn Trà, Cù Lao Chàm... và những bãi cát vàng chạy dài ôm lấy mặt nước bao la trong xanh của biển.
Những gì thiên nhiên ban tặng, qua thời gian và qua bàn tay con người, sẽ trở thành những giá trị nhân văn. Đến Hải Vân là đến với nơi giao thoa giữa hai vùng đất, là thỏa mãn tâm lý chiếm lĩnh đỉnh cao, hòa mình trong âm vọng sử thi của bao dấu chân người Việt xưa đi mở cõi, bồi hồi thương nhớ quá khứ thẳm sâu của một khúc ruột miền Trung.

Theo Dananggovvn


Bài đọc thêm :

Tam niên tam thướng Hải Vân đài
Nhất điểu thân khinh độc vãng hồi
Thảo thụ bán không đê nhật nguyệt
Càn khôn chích nhãn tiểu trần ai
Văn phi sơn thủy vô kỳ khí
Nhân bất phong sương vị lão tài
Hưu đạo Tần Quan chinh lộ hiểm
Mã đầu hoa tận đới yên khai
(Tam Thướng Hải Vân -Trần Bích San)

Ba năm vượt ải đã ba lần
Nhẹ cánh chim trời dạo Hải Vân
Ngắm rộng kiền khôn coi cũng bé
Lên cao nhật nguyệt tưởng đâu gần
Gió sương như búa tài thêm chuốt
Hồ bể làm nghiên bút mới thần.
Đầu ngựa rừng hoa chen khói nở
Cười ai kêu hiểm lối sang Tần
(Ba lần lên Ải Vân - Vũ Hoàng Chương)
<bài viết được chỉnh sửa lúc 21.06.2012 10:38:11 bởi duonglam >
===================================
 
 
 

Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2015

BẮC BÌNH VƯƠNG NGUYỄN HUỆ VÀ ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN KỶ DẬU [1789]

BẮC BÌNH VƯƠNG NGUYỄN HUỆ VÀ ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN KỶ DẬU [1789]
 
[Trích QUÊ HƯƠNG VÀ TÌNH YÊU ]

 
Như mơ ngày Tết xuân năm ấy
Nguyễn Huệ oai hùng giữa núi sông. 





 Áo trận thơm nồng xuân Kỷ Dậu,
Giáp bào rạng rỡ đất Thăng Long.

  Trời Nam Lừng Lẫy Trang Hào Kiệt,
Sử Việt Vang Danh Giống Lạc Hồng.
Thắp nén hương lòng dâng Tổ Quốc,
KHÓI TRẦM LỘNG GIÓ QUYỆN TRỜI ĐÔNG...
Duong Lam

 [vophubong]
  -------------------------------------------------------------------------
 
Chiến thắng XUÂN KỶ DẬU (1789)

Bài chi tiết: Trận Ngọc Hồi - Đống Đa...

Thần tốc bắc tiến

 
Trận Ngọc Hồi - Đống Đa

Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc, cầu viện hoàng đế nhà Thanh là Càn Long. Cuối năm 1788, Càn Long sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 29 vạn quân Thanh hộ tống Lê Chiêu Thống về Đại Việt với danh nghĩa “phù Lê”, vào chiếm đóng Thăng Long.

Quân Tây Sơn do Đại tư mã Ngô Văn Sở, theo mưu kế của Ngô Thì Nhậm,[41][42] Phan Huy Ích và các mưu thần khác, chủ động rút quân về đóng ở Tam Điệp - Biện Sơn cố thủ chờ lệnh.[43]

Nghe tin báo, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22 tháng 12 năm 1788), Nguyễn Huệ xuất quân tiến ra Bắc Hà. Để lấy danh nghĩa chính thống, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung.

Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân (26 tháng 12 năm 1788), đại quân của hoàng đế Quang Trung tới Nghệ An, dừng quân tại đó hơn 10 ngày để tuyển quân và củng cố lực lượng, nâng quân số lên tới 10 vạn,[44][45] tổ chức thành 5 đạo quân: tiền, hậu, tả, hữu và trung quân, ngoài ra còn có một đội tượng binh gồm 200 voi chiến. Quang Trung còn tổ chức lễ duyệt binh ngay tại Nghệ An để khích lệ tinh thần và ý chí quyết chiến, quyết thắng của tướng sĩ đối với quân xâm lược Mãn Thanh. Ngay sau lễ duyệt binh, Quang Trung tiến quân ra Bắc Hà.

Tôn Sĩ Nghị coi thường quân Tây Sơn, sau nghe lời các tướng của Chiêu Thống thì có lo đôi phần, hẹn mồng 6 Tết ra quân đánh Tây Sơn.

Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (15 tháng 1 năm 1789), đại quân của Quang Trung đã ra đến Tam Điệp. Sau khi xem xét tình hình, Quang Trung hẹn ba quân ngày mồng 7 Tết sẽ quét sạch quân Thanh, vào ăn Tết ở Thăng Long.

Quang Trung chia quân làm 5 đạo. Một cánh do đô đốc Long chỉ huy từ làng Nhân Mục tập kích đồn Khương Thượng và phía Tây Thăng Long. Cánh đô đốc Bảo tiến đánh các đồn phía Nam Thăng Long. Trung quân do đích thân Quang Trung chỉ huy, phối hợp với đô đốc Bảo đánh diệt các đồn phía Nam Thăng Long. Cánh đô đốc Tuyết và đô đốc Lộc theo đường biển ra Bắc, chặn đường lui của địch ở phía Bắc sông Nhị Hà và huyện Phượng Nhãn.

Đêm 30 tháng Chạp âm lịch, quân Tây Sơn đánh diệt đồn Gián Khẩu của các tướng Lê Chiêu Thống. Sau đó Quang Trung đánh diệt các đồn Nguyệt Quyết, Nhật Tảo, dụ hàng được đồn Hà Hồi. Đêm mồng 4 Tết, Quang Trung tiến đến trước đồn lớn nhất của quân Thanh là Ngọc Hồi nhưng dừng lại chưa đánh khiến quân Thanh lo sợ, phần bị động không dám đánh trước nhưng cũng không biết bị đánh lúc nào. Trong khi đó cánh quân của đô đốc Long bất ngờ tập kích đồn Khương Thượng khiến quân Thanh không kịp trở tay, hàng vạn lính bỏ mạng. Chủ tướng Sầm Nghi Đống tự vẫn. Xác quân Thanh chết sau xếp thành 13 gò đống lớn,[46] có đa mọc um tùm nên gọi là gò Đống Đa.

Đô đốc Long tiến vào đánh phá quân địch phòng thủ ở Tây Long. Sáng mồng 5, Quang Trung mới cùng đô đốc Bảo tổng tấn công vào đồn Ngọc Hồi. Trước sức tấn công mãnh liệt của Tây Sơn, quân Thanh bị động thua chết hàng vạn, phần lớn các tướng bị giết.[47] Trong khi Quang Trung chưa đánh Ngọc Hồi thì Tôn Sĩ Nghị nghe tin đô đốc Long đánh vào Thăng Long, cuống cuồng sợ hãi đã bỏ chạy trước. Đến sông Nhị Hà, sợ quân Tây sơn đuổi theo, Tôn Sĩ Nghị hạ lệnh cắt cầu khiến quân Thanh rơi xuống sông chết rất nhiều làm dòng sông bị nghẽn dòng chảy. Trên đường tháo chạy, Tôn Sĩ Nghị bị hai cánh quân Tây Sơn của đô đốc Tuyết và đô đốc Lộc chặn đánh, tơi tả chạy về. Lê Chiêu Thống hớt hải chạy theo Nghị thoát sang bên kia biên giới. Quân Tây Sơn đuổi theo và rao lên rằng sẽ đuổi qua biên giới đến khi bắt được Tôn Sĩ Nghị và Chiêu Thống mới thôi. Bởi thế dân Trung Quốc ở biên giới dắt nhau chạy làm cho suốt vài chục dặm không có người.[48][49]

Như vậy, sớm hơn dự kiến, chỉ trong vòng 6 ngày, quân Tây Sơn đã đánh tan quân Thanh. Trưa mồng 5 Tết, Quang Trung tiến vào thành Thăng Long trong sự chào đón của nhân dân.

Ngô Ngọc Du là một nhà thơ đương thời, đã ghi lại không khí tưng bừng của ngày chiến thắng oanh liệt đó trong một bài thơ[cần dẫn nguồn]:
“

Giặc đâu tàn bạo sang điên cuồng
Quân vua một giận oai bốn phương
Thần tốc ruỗi dài xông thẳng tới,
Như trên trời xuống dám ai đương

Một trận rồng lửa giặc tan tành,
Bỏ thành cướp đó trốn cho nhanh
Ba quân đội ngũ chỉnh tề tiến,
Trăm họ chật đường vui tiếp nghênh

Mây tạnh mù tan trời lại sáng
Đầy thành già trẻ mặt như hoa,
Chen vai khoác cánh cùng nhau nói:
"Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta"

[nguồn Wikipedia]


====================================
VẠN DẶM KIẾM HỒNG TUNG VÓ NGỰA
[Trích QUÊ HƯƠNG VÀ TÌNH YÊU]

Muôn câu ý đẹp tình thêm đẹp,
Rượu tiễn chàng đi bước hải hồ.[5]



 
Vạn dặm kiếm hồng tung vó ngựa,
Ngàn năm khuê các dậy lầu thơ...[6]
Ta vây Khương thượng - giặc tan vỡ,
Địch đến Nhị hà-  nươc nghẽn bờ.[7]
Thây giặc chất cao thành gò Đống,[8]
Thanh triều nửa tĩnh nửa như mơ...[9] 
Duong Lam -vophubonng
---------------------------------------------
Chú thích:
[5] Cuối năm 1788, Càn Long sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 29 vạn quân Thanh hộ tống Lê Chiêu Thống về Đại Việt với danh nghĩa “phù Lê”, vào chiếm đóng Thăng Long.Quân Tây Sơn do Đại tư mã Ngô Văn Sở, theo mưu kế … , chủ động rút quân về đóng ở Tam Điệp - cố thủ chờ lệnh. Nghe tin báo, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân , Nguyễn Huệ thống lãnh đại quân tiến ra Bắc. Ngọc Hân công chúa tức Hữu cung hoàng hậu tiễn đưa [ …Rượu tiển chàng đi bước hải hồ , Vạn dặm kiếm hồng tung vó ngựa …]
[6]. Ngọc Hân Công chúa là một cô gái thông minh, một nữ sĩ tài hoa ,hương sắc vẹn toàn .Từ nhỏ đă được học thông kinh sử và giỏi thơ văn .Bà đã nỗi tiếng trong làng thơ nôm với bài “Ai tư vãn” gồm 164 câu,theo thể song thất lục bát ca tụng chiến công vua Quang Trung Nguyễ n Huệ [ Ngàn năm khuê cát dậy lầu thơ…]
[7,8] Đêm 30 tháng Chạp âm lịch Quang Trung đánh diệt các đồn Nguyệt Quyết, Nhật Tảo, dụ hàng được đồn Hà Hồi. Đêm mồng 4 Tết, Quang Trung tiến đến trước đồn lớn nhất của quân Thanh là Ngọc Hồi nhưng dừng lại chưa đánh khiến quân Thanh lo sợ, phần bị động không dám đánh trước nhưng cũng không biết bị đánh lúc nào. Trong khi đó cánh quân của đô đốc Long bất ngờ tập kích đồn Khương Thượng khiến quân Thanh không kịp trở tay, hàng vạn quân lính bỏ mạng. [Ta vây Khương Thượng giặc tan vỡ …] Chủ tướng Sầm Nghi Đống tự vẫn. Xác quân Thanh chết sau xếp thành 13 gò đống lớn,có đa mọc um tùm nên gọi là gò Đống Đa. [Thây giặc chất cao thành Gò Đống…]
Sáng mồng 5, Quang Trung mới cùng đô đốc Bảo tấn công vào đồn Ngọc Hồi. Trước sức tấn công mãnh liệt của Tây Sơn, quân Thanh bị động thua chết hàng vạn, phần lớn các tướng bị giết.Trong khi Quang Trung chưa đánh Ngọc Hồi thì Tôn Sĩ Nghị nghe tin đô đốc Long đánh vào Thăng Long, cuống cuồng sợ hãi đã bỏ chạy trước. Đến sông Nhị Hà, sợ quân Tây sơn đuổi theo, Tôn Sĩ Nghị hạ lệnh cắt cầu khiến quân Thanh rơi xuống sông chết rất nhiều làm dòng sông bị nghẽn dòng chảy. [Địch đến Nhị hà nước nghẽn bờ ]… Trên đường tháo chạy, Tôn Sĩ Nghị bị hai cánh quân Tây Sơn của đô đốc Tuyết và đô đốc Lộc chặn đánh, tơi tả chạy thoát sang bên kia biên giới. Quân Tây Sơn đuổi theo và rao lên rằng sẽ đuổi qua biên giới cho đến khi bắt được Tôn Sĩ Nghị và Chiêu Thống mới thôi. Bởi thế dân Tàu ở biên giới dắt nhau bỏ chạy làm cho suốt năm sáu chục dặm đường không có bóng người và trâu bò súc vật…
Như vậy, sớm hơn dự kiến, chỉ trong vòng 6 ngày với kế hoạch tốc chiến tốc thắng ,với thiên tài mưu lược về quân sự của Nguyễn Hụê , quân Tây Sơn với quân số 10 vạn [phần lớn là dân quân chưa được tập luyện] đã đánh tan 29 vạn quân Thanh , lập nên một kỳ công hiển hách nhất trong lịch sữ nước ta và cả thế giới...Trưa mồng 5 Tết xuân Kỹ Dậu, Quang Trung với chiến bào đầy khói đen ,trên mình voi nhuộm đầy khói súng tiến vào thành Thăng Long trong sự vui mừng hã hê chào đón của toàn dân. … [Sau này khi nhớ lại lời hứa hẹn 10 năm sau vua Quang Trung sẽ lấy lại 2 tỉnh Quảng đông và Quảng tây mà Tàu đã chiếm của nước Nam ta trước kia không phải là lời nói quá nếu nhà vua không mất sớm…]!!!
[9]Tin bại trận đưa về, Càn long mắt nhắm mắt mở, nửa tĩnh nửa mê…Thôi rồi giấc mộng đế quốc bành trướng của triều Thanh tan tành thành mây khói…[Thanh triều nửa tĩnh nửa như mơ…]
[ thơ Dương Lam ]

===============================

BẮC BÌNH VƯƠNG NGUYỄN HUỆ




Anh hùng cái thế giữa muôn quân

Hào kiệt uy nghi gấp vạn lần

Ngang dọc sông hồ như dũng sĩ

Tung hoành cung kiếm tựa chinh nhân


Mưu cơ một chước tan đồn giặc [1] 

Kiếm thế đôi chiêu khiếp quỉ thần

Uy vũ Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ

Ngàn sau danh tiếng dậy trời Nam
 

vophubong
---------------------------------------

[1] Mưu cơ  một chuớc tan đồn giặc...




Ngày 29 tháng 1, Quang Trung dùng các toán quân nhỏ đánh khiêu khích ngoại vi Ngọc Hồi tạo sự căng thẳng cho quân Thanh và gây bất ngờ cho cánh quân đô đốc Long đánh đồn Đống Đa.
 Mờ sáng 30 tháng 1 (mùng 5 Tết), quân Tây Sơn bắt đầu tấn công từ hướng nam: mở đầu, đội tượng binh (trên 100 voi chiến) đánh tan phản kích của kị binh Hứa Thế Hanh; tiếp sau, bộ binh (gồm 600 quân cảm tử chia làm 20 toán), trang bị đoản đao, ván chắn bằng gỗ quấn rơm ướt che mình, tiến thành hàng ngang áp sát chiến luỹ, tạo điều kiện cho đại quân Quang Trung tiến lên giáp chiến. Quân Thanh chống không nổi, chết và bị thương quá nửa. Đề đốc Hứa Thế Hanh và tả dực Thượng Duy Thăng bị giết.Số tàn quân do tiên phong Trương Triều Long chỉ huy bỏ chạy về Thăng Long, nhưng bị chặn trên đường rút (gần Văn Điển ngày nay) buộc phải chạy theo hướng Đầm Mực. Tại đây, quân của đô đốc Bảo đã phục kích sẵn, tiêu diệt toàn bộ. Ngọc Hồi thất thủ, quân Tây Sơn thừa thắng đánh chiếm đồn Văn Điển và tiến thằng vào Thăng Long . Sầm Nghi Đống thắt cổ tự
tử, quân Tàu đại bại kéo tàn binh chạy về nước…
 
 
-----------------------------------------------------------------------------------
Xin mời các bạn thưởng thức: Ván cờ Kinh động trời đất

Mời các huynh đệ bấm vào hàng chữ duới đây để xem:
Ván cờ Kinh động trời đất - YouTube
  
Để tìm hiểu về  trận đánh " Tốc chiến tốc thắng của 



"BẮC BÌNH VƯƠNG NGUYỄN HUỆ"
=========================================

Gương danh nhân: TRẦN BÌNH TRỌNG
Gương danh nhân:

"Thà làm quỉ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc:"...
  TRẦN BÌNH TRỌNG  

Trời Nam anh kiệt dậy uy danh
Bình Trọng ngày xưa rạng sử xanh
Đà- Mạc chặn thù -ngăn Thát Đát
Thiên -Trường phò chúa- giúp Vua Trần 

“Làm vương đất Bắc?”- sống ô nhục ?...
“...Thà quỷ nước Nam “- chết hiển vinh...
  Mắng giặc  ngàn xưa vang dội tiếng
Hùm thiêng thất thế vẫn oai linh...

vophubong

----------------------------------
BÀI ĐỌC CHI TIẾT

Trần Bình Trọng
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


Trần Bình Trọng (chữ Hán: 陳平仲, 1259[1] - 1285) là danh tướng thời Trần, có công lớn hộ giá bảo vệ cho hai vua Trần (Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông) trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông lần thứ hai. Ông hy sinh khi chặn quân Nguyên ở bãi Thiên Mạc[2][3], được truy phong làm Bảo Nghĩa Vương.

Xuất thân
Trần Bình Trọng thuộc dòng dõi Đại Hành Hoàng Đế Lê Hoàn quê gốc ở vùng nay là huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa[1], sinh ở xã Bảo Thái, nay thuộc huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam[cần dẫn nguồn]. Vợ Trần Bình Trọng là công chúa Thụy Bảo (Thụy Bảo đã có một đời chồng trước là Uy Văn Vương Toại). Sau này, con gái của Trần Bình Trọng, Chiêu Hiến Hoàng thái hậu, là mẹ của Trần Minh Tông, vua thứ năm triều Trần. Sử sách không ghi chép cha mẹ ông là ai. Tuy nhiên, có tài liệu nói phụ thân ông là danh tướng thời Trần Thái Tông là Lê Phụ Trần. Lê Phụ Trần lập công lớn trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất, nên được vua gả công chúa Chiêu Thánh cho.

Trận đánh chiến lược
Tháng 1 năm 1285, 50 vạn quân Nguyên-Mông do Trấn Nam Vương Thoát Hoan, con trai của Hoàng đế nhà Nguyên Hốt Tất Liệt, cầm đầu chia quân làm hai cánh tấn công xâm lược Đại Việt. Quân Nguyên Mông là đạo quân cực kỳ thiện chiến, nhanh chóng chiếm ưu thế tuyệt đối trước quân Đại Việt, ít hơn và không quen chiến trận. Sau thất bại trong vài trận đánh mở màn, tổng tư lệnh quân Đại Việt, Quốc công tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn quyết định lui quân về giữ Vạn Kiếp (nay thuộc vùng Vạn Yên, Chí Linh, Hải Dương). Sau đó, quân Đại Việt lui về Thăng Long, nhưng cũng không giữ được trước sức tấn công ồ ạt của quân Nguyên.
Hưng Đạo Vương quyết định rút khỏi Thăng Long, lui về Thiên Trường (nay là tỉnh Nam Định). Trần Bình Trọng được Hưng Đạo Vương và hai vua Trần giao cho một nhiệm vụ nặng nề: giữ vùng Đà Mạc - Thiên Mạc, ngăn chặn và cầm chân quân Nguyên, đảm bảo cho bộ chỉ huy quân kháng chiến rút lui an toàn và bí mật, không để lại dấu vết. Tư lệnh quân Nguyên là Thoát Hoan đặc biệt ưu tiên cho cánh quân truy đuổi này với hai đạo cả thủy lẫn bộ đều do những tướng giỏi, hữu thừa Khoan Triệt và tả thừa Lý Hằng cùng Ô Mã Nhi, chỉ huy, đều dùng quân khinh kỵ và thuyền nhẹ để truy đuổi bằng được hai vua Trần.
Trần Bình Trọng đã tổ chức cuộc đánh chặn ngay tại bãi Thiên Mạc. Do sự chênh lệch quá lớn về quân số, Trần Bình Trọng bị bắt, nhưng trận đánh là một thắng lợi cực kỳ quan trọng về mặt chiến lược với cuộc kháng chiến khi kể từ đó, quân Nguyên hoàn toàn mất dấu bộ chỉ huy kháng chiến.
Anh dũng hy sinh
Sau khi bắt được Trần Bình Trọng, tướng Nguyên tìm mọi cách để khai thác thông tin, dọa nạt, dụ dỗ ông. Tuy nhiên, Trần Bình Trọng kiên quyết không khuất phục. Khi được hỏi có muốn làm vương đất bắc không, Trần Bình Trọng khẳng khái trả lời:
“
Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Ta đã bị bắt thì có một chết mà thôi, can gì mà phải hỏi lôi thôi.

” Đó là một trong những câu nói nổi tiếng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm cũng như lịch sử Việt Nam nói chung, trở thành một trong những biểu tượng của tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc Việt. Không thể khuất phục được Trần Bình Trọng, quân Nguyên buộc phải giết ông vào ngày 21 tháng Giêng[7] năm Ất Dậu (26-2-1285),

 còn Đại Việt Sử ký Toàn thư (Bản kỷ quyển 5) và Khâm định Việt sử thông giám Cương mục (Chính biên quyển thứ 7) đều chép là tháng 2 (âm lịch) năm 1285. Năm đó, Trần Bình Trọng 26 tuổi.

Đánh giá
Trần Bình Trọng được các sử gia đời sau đánh giá rất cao vì lòng yêu nước và tinh thần chống ngoại xâm, trở thành một ví dụ điển hình cho các cuộc kháng chiến chống phương Bắc sau này.

Trong các tác phẩm văn học
Có hai bài thơ nổi tiếng viết về Trần Bình Trọng của Trần Tuấn Khải và Phan Kế Bính.
Nội dung bài thơ của Phan Kế Bính như sau:

Giỏi thay Trần Bình Trọng!
Dòng dõi Lê Đại Hành.
Đánh giặc dư tài mạnh,
Thờ vua một tiết trung.
Bắc vương sống mà nhục,
Nam quỷ thác cũng vinh.
Cứng cỏi lòng trung nghĩa.
Ngàn thu tỏ đại danh.

Ngoài ra, còn có một tiểu thuyết, Bên bờ Thiên Mạc, của nhà văn Hà Ân viết về Trần Bình Trọng và trận đánh của ông. 
============================================
GƯƠNG HAI VỊ NỮ ANH HÙNG DÂN TỘC :
 HAI BÀ TRƯNG


Giáp bạc yên vàng giục giã cương,

Cờ bay kiếm bạt dậy sa trường.

Long thành [1] gót ngọc an bờ cõi,

Nam quốc má hồng định nghiệp vương.

Nợ nước duyên chồng thề một dạ,

Tình em nghĩa chị nguyện chung đường.

Ngàn thu gái Việt còn kiêu hãnh,

Má phấn muôn đời tõa sắc hương
Dương Lam

vophubong


-------------------------------------------------------------

GHI CHU

[1] Long thành [thành Long biên địa danh Hà nội thời bấy giờ]

-------------------------------------
BAI DOC THEM

Bà Trưng quê ở Châu Phong 
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên [3]
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân
Ngàn tây nổi áng phong trần
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên
Hồng quần nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thành
Kinh kỳ đóng cõi Mê Linh
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta
Ba thu gánh vác sơn hà
Một là báo phục hai là Bá Vương
Uy danh động tới Bắc Phương
Hán sai Mã Viện lên đường tấn công
Hồ Tây đua sức vẫy vùng
Nữ nhi địch với anh hùng được sao!
Cẩm Khê đến lúc hiểm nghèo
Chị em thất thế cùng liều với sông!
Trước là nghĩa, sau là trung
Kể trong lịch sử anh hùng ai hơn...

[Việt nam Quốc sữ diễn ca]


--------------------------------------------------------------------------------- 

HAI BÀ TRƯNG [bai hai]

Đất Việt muôn đời tỏa sắc hương, 

Sử xanh bao kẻ vẫn am tường. 

Thù chồng đuổi giặc lên ngôi báu, 
Gầy dựng cơ đồ dấy nghiệp vương .

Má phấn ngàn thu ngời khí tiết, [**]
Trụ đồng một thuở bóng tà dương. [***]
Hát Giang chiến tích còn ghi nhớ, 
Công đức Hai Bà mãi tiếc thương… 

vophubong

Notes:

-------------------------------------------------------------------------

BÀ Trưng Trắc sinh năm Giáp Tuất (năm 14 sau Tây Lịch), quê ở Mê Linh (Yên Lãng, Phúc Yên nay thuộc vùng Hạ Lôi, Yên Lãng, Vĩnh Phúc . Năm 39,Thái thú nhà Hán Tô Định giết Thi Sách là chồng bà. Vừa thù nhà, nợ nước, nên Bà với em là Trưng Nhị chiêu binh mãi mã ,phất cờ khởi nghĩa đánh quân nhà Hán.. Dưới bóng cờ nương tử, nghĩa binh Mê Linh phá quận nhà Hán, ngày càng có thêm nhiều đoàn quân từ các nơi đổ về dưới bóng cờ khởi nghĩa .Chẳng bao lâu, quân của Hai Bà hạ được tất cả 65 thành, Tô Định khiếp sợ, chạy trốn vê Nam Hải .Bà Trưng Trắc lên ngôi vua, tự xưng là Trưng Nữ Vương, đóng đô ở Mê Linh chấm dứt 150 năm Bắc thuộc lần thứ nhất (111 trước Tây Lịch đến 39 sau Tây Lịch)..

[**] Tháng Chạp, năm 41, vua Hán Quang Võ phong Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, mang đại quân sang đánh. Trận kịch chiến dữ dội giữa quân của Mã Viện với dân binh do Trư­ng Nữ Vương thống lĩnh đã diễn ra ở Lăng Bạc (Đông Triều - Yên Phong, Hà Bắc). Quân Mã Viện đóng trên các triền đất cao giữa vùng Lãng Bạc bị Trư­ng Nữ Vư­ơng đem quân tới chận đánh. Trận chiến đầu tiên với đạo quân của Mã Viện đã mang lại thắng lợi nhưng quân của hai Bà cũng đã hy sinh quá nhiều; trước tình thế đó, Trư­ng Nữ Vư­ơng thu quân về giữ Cấm Khê (Hà Nội - Quốc Oai - Hà Tây). Mã Viện xin tăng cường thêm quân rồi tiếp tục kéo binh huyết chiến .Trận thư hùng lại xảy ra, máu chảy đỏ cả sông Hồng . Qua những trận giao chiến với quân địch, hàng vạn quân dân Việt đã bị giết và bị bắt. Quyết chống trả với quân giặc đến cùng, Trưng Nữ Vương phải bỏ Cấm Khê lui quân về Hát Giang, nơi đây vì quân ít, thế cô và cùng đường, không muốn rơi vào tay quân địch Hai Bà bèn gieo mình xuống sông tự vận để bảo toàn khí tiết. Đó là ngày 6 tháng 2 năm Quý Mão (năm 43). Theo sử Việt , Hai Bà hưởng dương 29 tuổi. [Má phấn ngàn thu ngời khí tiết…]

[***] Mã Viện đem quân về đóng ở Mê Linh, dựng trụ đồng , khắc sáu chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” để ghi công và đe dọa người Giao chỉ…
[ Đó thật là : “Má phấn ngàn thu ngời khí tiết .Trụ đồng một thuở bóng tà dương”…[thơ Dương Lam vophubong]
 Danh tiếng, khí tiết Hai Bà ngàn xưa còn đó, mà trụ đồng của tên giặc Tàu Mã viện đã đi về đâu???


==================================
GƯƠNG DANH NHÂN NƯỚC VIỆT



Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá tràng kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người ta"





Đạp cơn sóng dữ quậy ngông cuồng
Chém cá tràng kình dậy biển Đông

  Giúp nuớc xây nhà xua giặc mạnh
 
Dương cờ khởi nghĩa dựng binh hùng

 Bồ Điền[ 1] giữa trận so đao kiếm
Non Việt bên trời lập chiến công
Nữ tướng Nhụy Kiều danh nỗi tiếng [3]
Ngàn sau rạng rỡ núi non Tùng [ 4]
  vophubong



[  
 
--------------------------------  
  Chú thích:
[1] Bồ- Điền : căn cứ địa xảy ra những trận chiến quyết liệt giữa quân Bà và quân Ngô... 
[2]  Nhụy Kiều : Vị tướng yêu kiều như nhuỵ hoa.
[3]  non Tùng : Nơi Bà tuẫn tiết...sau có đền thờ Bà...
--------------------------------------------------------------
Cuộc Khởi Nghĩa Của Triệu Thị Trinh (248)
(Bà Triệu)
"Muốn coi lên núi mà coi
Có Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng"
Trong lịch sử đấu tranh chống ách đô hộ và giành độc lập cho nước nhà, nếu đỉnh cao của thế kỷ I là khu vực Giao Chỉ và đỉnh cao của thế kỷ II là vùng Nhật Nam, thì đỉnh cao của thế kỷ III lại là quận Cửu Chân. Thực ra, ngay từ cuối thế kỷ II, nhân dân Cửu Chân cũng đã từng phối hợp chặt chẽ với nhân dân Nhật Nam trong cuộc đấu tranh chống ách thống tri của nhà Hậu Hán. Chính họ đã góp phần không nhỏ vào quá trình tạo lập nên vương quốc của người Chăm (năm 192). Tuy nhiên, chói lọi nhất thế kỷ III vẫn là cuộc khởi nghĩa ở trung tâm quận Cửu Chân do Triệu Thị Trinh phát động và lãnh đạo.


Triệu thị Trinh sinh ngày 2 tháng 10 nǎm 226 (Bính Ngọ) tại huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hoá trong một gia đình hào trưởng. Triệu thị Trinh là một phụ nữ có tướng mạo kỳ lạ, người cao lớn vú dài nǎm thước. Bà là người tính tình vui vẻ, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, trí lực hơn người. Truyền thuyết kể rằng, có lần xuất hiện một coi voi trắng một ngà phá phách ruộng nương, làng xóm, làm chết người. Triệu Thị Trinh dũng cảm cầm búa nhảy lên dùng tài làm con voi lạ gục đầu xin qui thuận.
Khi nhà Ngô xâm lược đất nước gây nên cảnh đau thương cho dân chúng, khoảng 19 tuổi Triệu thị Trinh bỏ nhà vào núi xây dựng cǎn cứ, chiêu mộ nghĩa quân đánh giặc. Khi anh trai nhắn về nhà gả chồng, bà đã trả lời tỏ rõ khí phách của mình mà đến nay không mấy người Việt Nam là không biết: "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá tràng Kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ sao lại chịu khom lưng làm  tì thiếp người ta". Truyền thuyết kể rằng, nǎm 248 khi Triệu Thị Trinh khởi nghĩa trời đã sai đá núi loan tin tập hợp binh sĩ trong vùng. Đêm khuya từ lòng núi đá phát ra rằng:

"Có Bà nữ tướng.

 Vâng lệnh trời ra.

 Cỡi voi một ngà.

 Dựng cờ mở nước.

 Lệnh truyền sau trước.

 Theo gót Bà Vương".

 Theo đó dân chúng trong vùng hưởng ứng nhiệt liệt, có người mang theo cả bộ giáp vàng, khǎn vàng.... dâng cho bà. Anh trai bà là Triệu Quốc Đạt được tôn làm Chủ tướng. Bà Triệu là Nhuỵ Kiều tướng quân (Vị tướng yêu kiều như nhuỵ hoa). Khi ra trận Bà mặc áo giáp vàng, chít khǎn vàng, đi guốc ngà, cưỡi voi một ngà. Quân Bà đi đến đâu dân chúng hưởng ứng, quân thù khiếp sợ. Phụ nữ quanh vùng thúc giục chồng con ra quân theo Bà Vương đánh giặc. Cho đến nay nhân dân vùng Thanh Hoá và lân cận còn nhiều câu ca, lời ru con nói về sự kiện này.
Sau hàng chục trận giao tranh với giặc, trận thứ 39 anh trai bà là Triệu Quốc Đạt tử trận, Bà Triệu lên làm chủ tướng và lập nên một cõi giang sơn riêng vùng Bồ Điền khiến quân giặc khó lòng đánh chiếm. Biết bà có tính yêu sự trong sạch , ghét quân dơ bẩn, quân giặc bố trí một trận đánh từ tướng đến quân đều loã thể. Bà không chịu được chiến thuật đê hèn đó phải lui voi giao cho quân sĩ chiến đấu rồi rút về núi Tùng. Bà quì xuống vái trời đất: "Sinh vi tướng, tử vi thần" (Sống làm tướng, chết làm thần) rồi rút gươm tự vẫn.
Đến nay chuyện Bà Triệu từ thế kỷ thứ II vẫn còn hằn đậm trong tâm thức mỗi người Việt Nam với lòng ngưỡng mộ và tự hào. Lǎng và đền thờ Bà vẫn còn mãi với thời gian tại huyện  Hậu Lộc tỉnh Thanh Hoá là di tích lịch sử quan trọng của quốc gia là bằng chứng về niềm tự hào một người phụ nữ liệt oanh của Dân tộc Việt Nam. 
 =====================
 THƠ ĐƯỜNG

Gương danh nhân:

"Thà làm quỉ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc:"...

TRẦN BÌNH TRỌNG



Trời Nam anh kiệt dậy uy danh
Bình Trọng ngày xưa rạng sử xanh
Đà- Mạc chặn thù ngăn Thát Đát
Thiên -Trường phò chúa giúp Vua Trần 


 


“Làm vương đất Bắc?”- sống ô nhục ?...
“...Thà quỷ nước Nam “- chết hiển vinh...
  Mắng giặc núi rừng vang dội tiếng
Hùm thiêng thất thế vẫn oai linh...

voduonghonglam

----------------------------------
BÀI ĐỌC CHI TIẾT

Trần Bình Trọng
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trần Bình Trọng (chữ Hán: 陳平仲, 1259[1] - 1285) là danh tướng thời Trần, có công lớn hộ giá bảo vệ cho hai vua Trần (Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông) trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông lần thứ hai. Ông hy sinh khi chặn quân Nguyên ở bãi Thiên Mạc[2][3], được truy phong làm Bảo Nghĩa Vương.

Xuất thân
Trần Bình Trọng thuộc dòng dõi Đại Hành Hoàng Đế Lê Hoàn quê gốc ở vùng nay là huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa[1], sinh ở xã Bảo Thái, nay thuộc huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam[cần dẫn nguồn]. Vợ Trần Bình Trọng là công chúa Thụy Bảo (Thụy Bảo đã có một đời chồng trước là Uy Văn Vương Toại). Sau này, con gái của Trần Bình Trọng, Chiêu Hiến Hoàng thái hậu, là mẹ của Trần Minh Tông, vua thứ năm triều Trần. Sử sách không ghi chép cha mẹ ông là ai. Tuy nhiên, có tài liệu nói phụ thân ông là danh tướng thời Trần Thái Tông là Lê Phụ Trần. Lê Phụ Trần lập công lớn trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất, nên được vua gả công chúa Chiêu Thánh cho.

Trận đánh chiến lược
Tháng 1 năm 1285, 50 vạn quân Nguyên-Mông do Trấn Nam Vương Thoát Hoan, con trai của Hoàng đế nhà Nguyên Hốt Tất Liệt, cầm đầu chia quân làm hai cánh tấn công xâm lược Đại Việt. Quân Nguyên Mông là đạo quân cực kỳ thiện chiến, nhanh chóng chiếm ưu thế tuyệt đối trước quân Đại Việt, ít hơn và không quen chiến trận. Sau thất bại trong vài trận đánh mở màn, tổng tư lệnh quân Đại Việt, Quốc công tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn quyết định lui quân về giữ Vạn Kiếp (nay thuộc vùng Vạn Yên, Chí Linh, Hải Dương). Sau đó, quân Đại Việt lui về Thăng Long, nhưng cũng không giữ được trước sức tấn công ồ ạt của quân Nguyên.
Hưng Đạo Vương quyết định rút khỏi Thăng Long, lui về Thiên Trường (nay là tỉnh Nam Định). Trần Bình Trọng được Hưng Đạo Vương và hai vua Trần giao cho một nhiệm vụ nặng nề: giữ vùng Đà Mạc - Thiên Mạc, ngăn chặn và cầm chân quân Nguyên, đảm bảo cho bộ chỉ huy quân kháng chiến rút lui an toàn và bí mật, không để lại dấu vết.
Tư lệnh quân Nguyên là Thoát Hoan đặc biệt ưu tiên cho cánh quân truy đuổi này với hai đạo cả thủy lẫn bộ đều do những tướng giỏi, hữu thừa Khoan Triệt và tả thừa Lý Hằng cùng Ô Mã Nhi, chỉ huy, đều dùng quân khinh kỵ và thuyền nhẹ để truy đuổi bằng được hai vua Trần.
Trần Bình Trọng đã tổ chức cuộc đánh chặn ngay tại bãi Thiên Mạc. Do sự chênh lệch quá lớn về quân số, Trần Bình Trọng bị bắt, nhưng trận đánh là một thắng lợi cực kỳ quan trọng về mặt chiến lược với cuộc kháng chiến khi kể từ đó, quân Nguyên hoàn toàn mất dấu bộ chỉ huy kháng chiến.
Anh dũng hy sinh
Sau khi bắt được Trần Bình Trọng, tướng Nguyên tìm mọi cách để khai thác thông tin, dọa nạt, dụ dỗ ông. Tuy nhiên, Trần Bình Trọng kiên quyết không khuất phục. Khi được hỏi có muốn làm vương đất bắc không, Trần Bình Trọng khẳng khái trả lời:
“
Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Ta đã bị bắt thì có một chết mà thôi, can gì mà phải hỏi lôi thôi[5][6].
”
Đó là một trong những câu nói nổi tiếng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm cũng như lịch sử Việt Nam nói chung, trở thành một trong những biểu tượng của tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc Việt. Không thể khuất phục được Trần Bình Trọng, quân Nguyên buộc phải giết ông vào ngày 21 tháng Giêng[7] năm Ất Dậu (26-2-1285)?[8][9], còn Đại Việt Sử ký Toàn thư (Bản kỷ quyển 5) và Khâm định Việt sử thông giám Cương mục (Chính biên quyển thứ 7) đều chép là tháng 2 (âm lịch) năm 1285. Năm đó, Trần Bình Trọng 26 tuổi.

Đánh giá
Trần Bình Trọng được các sử gia đời sau đánh giá rất cao vì lòng yêu nước và tinh thần chống ngoại xâm, trở thành một ví dụ điển hình cho các cuộc kháng chiến chống phương Bắc sau này.
Hiện nay ở hai thành phố lớn nhất Việt Nam là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đều có những con đường mang tên ông. Tên Trần Bình Trọng còn được lấy đặt cho nhiều địa danh khác trên khắp Việt Nam.
Trong các tác phẩm văn học
Có hai bài thơ nổi tiếng viết về Trần Bình Trọng của Trần Tuấn Khải và Phan Kế Bính.
Nội dung bài thơ của Phan Kế Bính như sau:

Giỏi thay Trần Bình Trọng!
Dòng dõi Lê Đại Hành.
Đánh giặc dư tài mạnh,
Thờ vua một tiết trung.
Bắc vương sống mà nhục,
Nam quỷ thác cũng vinh.
Cứng cỏi lòng trung nghĩa.
Ngàn thu tỏ đại danh.

Ngoài ra, còn có một tiểu thuyết, Bên bờ Thiên Mạc, của nhà văn Hà Ân viết về Trần Bình Trọng và trận đánh của ông.


========================