Thứ Hai, 26 tháng 5, 2014

Bắc Kinh sợ nhất cái gì?

Bắc Kinh sợ nhất cái gì?

Lê Phú Khải
… Sợ nhất Việt Nam dân chủ.
Vì, Bắc Kinh giống hệt Hà Nội: Đang ngồi trên kho thuốc nổ.
Chế độ đảng trị độc tài ở Trung Quốc đã tạo ra những mâu thuẩn đối kháng trong lòng nó và không có cách nào hoá giải được.
Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã đưa ra năm mâu thuẫn “chết người” ở nước này.
- Thứ nhất, môi trường bị tàn phá. Do Trung Quốc chọn con đường phát triển nóng, vì nhà nước muốn mau chóng giàu có nên đã biến Trung Quốc thành một công xưởng của thế giới. Mà xưởng máy thì phải thải ra phế liệu, khí độc tàn phá môi trường. Có huyện ở Trung Quốc xây nhà máy hoá chất ngay bên một hồ nước rất lớn, nước ở hồ này dùng cho cả huyện. Hồ nước bị nhiễm độc. Phụ nữ đẻ ra quái thai. Nếu muốn phục hồi, giải độc cho hồ nước này phải mất 50 năm. Phá nhà máy đi thì dân không có việc làm, cũng chết, để nhà máy thì… cũng chết. Tiến thoái lưỡng nan.
Một phần ba đất đai ở Trung Quốc đang bị sa mạc hoá. Và đang tiếp tục sa mạc hoá…
Thủ đô Bắc Kinh có thời gian khói bụi mù mịt, đứng xa 5 mét không nhìn thấy nhau. Vấn nạn môi trường ở TQ chỉ có tăng, không có giảm từ cái xưởng máy khổng lồ này của thế giới. Chưa kể đến cơn khát nhiên liệu điên cuồng của nó.
Khác với TQ, Ấn Độ chọn con đường dân chủ về chính trị. Về kinh tế, họ chọn làm “văn phòng của thế giới”, nên tuy dân số chẳng thua kém gì TQ nhưng Ấn Độ đang ung dung bước vào thế kỷ 21 với đầy hứa hẹn.
- Thứ hai, nạn tham nhũng ở TQ ngày càng một gia tăng và cũng không có cách gì ngăn chặn được. Ở TQ, toà xử án kẻ tham nhũng, buôn lậu, tuyên án xong là thi hành án tử hình ngay tại… toà mà cũng không làm giảm thiểu được tham nhũng. Vì chế độ độc tài của nước này hàng ngày hàng giờ đẻ ra tham nhũng. Tham nhũng đã trở thành mối đe doạ lớn của chế độ.
- Thứ ba, khoảng cách giàu nghèo ở TQ ngày càng một gia tăng. Hố ngăn cách này ngày càng khủng khiếp. Các nhà tư bản đỏ TQ có cả tàu biển riêng để đưa gia đình đi nghỉ mát trên biển, trong khi công nhân phải xích con vào cỗ máy mình làm việc, vì không có tiền gởi con đi nhà trẻ. Ông Hồ Cẩm Đào trong suốt thời gian nhiệm kỳ của mình đã nổ lực để “xây dựng một xã hội hài hoà”… nhưng không thể xoay chuyển được tình thế.
- Thứ tư, mâu thuẩn sắc tộc ngày càng một gia tăng. Các vùng Tân Cương, Tây Tạng… luôn bảo vệ bản sắc văn hoá của dân tộc mình, quyết liệt chống lại công cuộc Hán hoá đối với họ.
Người Mỹ khôn ngoan ở chỗ hình thành các tiểu bang. Ở các tiểu bang đó có nghị viện, thống đốc, có luật lệ của tiểu bang… dân chúng được sống hạnh phúc theo những phong tục, lề thói, văn hoá truyền thống của vùng miền. Vì thế nước Mỹ rộng lớn như TQ, nhưng không hề nảy sinh mâu thuẩn giữa địa phương và chính quyền liên bang. Và dân chúng ở các tiểu bang luôn tự hào họ là dân của cường quốc Hoa Kỳ. TQ với chủ nghĩa Hán tộc cực đoan đã chống lại các nền văn hoá. Đó là điều phi lý nhất. Những ngọn lửa tự thiêu ở Tây Tạng, những cuộc bạo loạn ở Tân Cương là tất yếu.
- Thứ năm, chủ nghĩa Mác-Lênin đã sụp đổ tan tành trên phạm vi toàn thế giới, TQ muốn đi tìm những giá trị tinh thần mới của mình bằng “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc TQ”, bằng lý thuyết “mèo trắng mèo đen” của Đặng Tiểu Bình, bằng thuyết “ba đại diện” của Giang Trạch Dân. Trong khi đó chỉ là những lý thuyết thiếu hệ thống, thuyết sức thuyết phục, mà người ta lại muốn “ổn định” ngai vàng của đảng cộng sản để duy trì quyền lực thì phải tính sao đây? Và thế là, người ta bèn bật nắp quan tài để dựng dậy một ông Khổng Tử làm “giá trị Trung Hoa”. Hàng trăm viện Khổng Tử được lập nên để nghiên cứu về một nền đức trị cho một xã hội có hàng trăm ngàn cuộc bạo loạn của dân chúng hàng năm vì bất công xã hội, giàu nghèo ngày càng như nước với lửa, và cả đất nước là cả một cái lò khổng lồ ô nhiễm độc hại với muôn nghìn cách xả rác thải hoá chất ra môi trường. Giải thưởng hoà bình Khổng Tử năm 2010 được trao cho ngài cựu Phó tổng thống Đài Loan Liên Chiến và nhiều người khác. Năm 2011 được trao cho nhà độc tài Putin. Nhưng thật bất ngờ, những người đoạt giải đều phát biểu không biết nó là cái gì và không ai đi nhận giải. Vì thế cho nên người Nga mới chế giễu nó “nhảm nhí vô giá trị”.
Chế độ độc tài đảng trị ở TQ đang xây dựng trên cái nền chứa chất bao ung nhọt kể trên. Họ đang muốn chuyển những mâu thuẩn đó ra ngoài biên giới bằng những “giàn khoan khủng” nhằm khích lệ chủ nghĩa dân tộc cực đoan Đại Hán. Nhưng thời đại thông tin toàn cầu không cho phép họ làm được điều đó. Vì trên hết, TQ là đất nước của một chế độ tuyệt vọng. Những người giàu có nhất ở nước này đều đã gửi tiền, mua nhà, gửi con ra nước ngoài… Chỉ chờ con tàu của chế đắm là họ nhảy ra. Không như nhiều người lầm tưởng về TQ.
Một Việt Nam cải cách chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền lúc này là tiếng sét ngang tai đối với độc tài đảng trị ở TQ. Việt Nam dân chủ là tiếng gọi mênh mông được vẫy chào từ hàng triệu trái tim TQ bị đè nén bởi bạo quyền bấy lâu nay. Và cũng chỉ có dân chủ Việt Nam mới tập hợp được sức mạnh cả dân tộc để đương đầu với kẻ thù truyền kiếp đang muốn ăn tươi nuốt sống mình. Thế giới dân chủ văn minh nhất định sẽ ủng hộ, lựa chọn một Việt Nam dân chủ để kiềm chế, vô hiệu hoá một TQ đã chọn con đường bạo lực thay cho con đường “vươn lên trong hoà bình” như họ đã tuyên bố trước đây.
Chỉ có dân chủ mới cứu được nước, cứu được chính đảng trong giờ phút ngàn cân treo sợi tóc này. Vì dân chủ là sức mạnh của cả dân tộc.
Để kết thúc bài viết này, tôi xin dẫn lời Tướng De Castries sau trận Điện Biên Phủ, khi ông trả lời các nhà báo Pháp: Người ta có thể đánh thắng một đạo quân, nhưng không ai đánh thắng được một dân tộc.
Câu nói đó ở Việt Nam lúc này phải được hiểu theo nhiều nghĩa.
Sài Gòn, 5/2014
L.P.K.
Tác giả gửi BVN

Nguy cơ lớn nhất của Việt Nam hiện nay

Nguy cơ lớn nhất của Việt Nam hiện nay

Hoàng Mai
Những nguy cơ của Việt Nam hiện nay là:
1. Một nền kinh tế, chính trị, ngoại giao phụ thuộc gần như toàn diện vào China
2. Nền kinh tế có nguy cơ phá sản, do sản xuất trong nước không phát triển được, không cạnh tranh lại với hàng China, thâm thủng mậu dịch với China quá lớn, tính ra năm 2013 là hơn 20 tỷ USD. Nếu cộng từ 5 năm trước lại, thì có thể thâm hụt thương mại Việt Nam so với China (tức còn nợ China) khoảng 50 tỷ USD. Chưa kể các khoản vay ODA cho các công trình trọng điểm quốc gia mà China trúng thầu đến 90%. Có thể tổng nợ của Việt Nam so với China vào khoảng 70 đến 80 tỷ USD. Đào đâu ra tài nguyên, khoáng sản để trả và trả bao giờ cho hết số nợ ấy? (tôi dự đoán rằng, tổng nợ nước ngoài của Việt Nam hiện nay khoảng hơn gấp đôi số nợ China nói trên, tức khoảng 170 đến 200 tỷ USD). Qua đây cho thấy, chỉ cần Bắc Kinh “húng hắng ho” là Hà Nội đã xanh mặt, cho nên liên tục nhượng bộ Bắc Kinh.
3. Tệ nạn tham nhũng kéo dài vài chục năm nay đã làm suy kiệt mọi nguồn lực. Gần như tất cả các bộ, ngành, địa phương đều nghĩ cách để khai thác tài nguyên nhằm vơ vét khi có chức, có quyền để còn kịp hạ cánh. Rừng hầu như đã bị phá hết (trừ một số rừng quốc gia); chỗ nào có khoáng sản đều được truy tìm để khai thác, kể cả đá và cát trong xây dựng cũng vậy…
4. Văn hóa đã ở mức suy đồi, đạo đức xã hội đã bị băng hoại, đang nằm ở đáy. Cơ quan công quyền hống hách, khinh dân. Đến các cơ quan công quyền, bệnh viện,… Nhân Dân phải nghĩ đến phong bì…; cứ nhìn các tấm ảnh công an đánh người thâm tím đến chết trong nhiều vụ án mà thất kinh, ngoài sức tưởng tượng…
5. Mâu thuẫn giữa Đảng cầm quyền, Chính quyền với Nhân Dân gần như đã trở thành đối kháng. Và ta dễ nhận thấy, Đảng CSVN đã và đang xem Nhân Dân Việt Nam là “thế lực thù địch”?! Việc không dám ban hành Luật biểu tình và cấm Nhân Dân biểu tình, là sự trả lời cho nhận định này. Đảng sợ “thế lực thù địch” lợi dụng biểu tình để lật đổ.
6. Khả năng chiến tranh với China là rất lớn. Sự kiện giàn khoan HD-981 là điển hình. Nếu nhượng bộ thì sẽ tạo tiền lệ để China làm tới, sẽ tạo “vết dầu loang”; nếu căng quá thì có thể xẩy ra chiến tranh. Có vẻ như China đã động binh ở Biên giới phía Bắc (?!). Trong khi China cũng đã thuê đất ở Lào là 50-70 năm; với CPC giáp Việt Nam, họ đã thuê có nơi nghe đâu là 99 năm, chắc chắn họ đã thiết lập căn cứ quân sự rồi. Vậy là, Việt Nam tứ bề bị China bao vây. Trong đó nguy cơ từ phía biển là cực kỳ nguy hiểm. Tưởng tượng với vài ba chục nghìn chiếc tàu đánh cá có vũ trang đổ bộ bất ngờ vào một số cảng từ Thanh Hóa trở vào, và ở một số địa phương ven biển, thì tình hình sẽ rối loạn ngay từ đầu.
Về mọi mặt, nếu xẩy ra chiến tranh với China, và nếu như không có sự giúp đỡ của Mỹ, Nhật, thì chắc chắn đến 80% Việt Nam sẽ thua, và mất khoảng một nửa Biển theo cuộc chiến này. Hơn ai hết, Bắc Kinh đang rất cân nhắc kỹ sự thiệt hơn trong việc gây chiến lần này.
Trên đây là 6 nguy cơ lớn, nhưng chưa phải là lớn nhất, quan trọng nhất. Vậy còn lại là nguy cơ nào?
Xin trả lời, đó là: VIỆT GIAN!
Việc để mất các điểm cao ở huyện Thanh Thủy, tỉnh Hà Giang, cũng như để mất Gạc Ma, trong thập niên 1980 cho thấy, hầu như Bắc Kinh đã cài cắm được người vào cấp cao nhất của Việt Nam ở thời điểm đó.
Vụ các quan chức cấp cao người Lào bị tai nạn hôm tháng 17.5.2014 vừa rồi là bài học cảnh giác dễ thấy về người Tàu đã lũng đoạn Lào ở mức độ nào. Việt Nam cũng không khá hơn, hãy cảnh giác!
Những cuộc biểu tình bị lợi dụng ở Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Áng, hôm 14 và 15 tháng 5 vừa rồi, mà báo chí, cũng như cộng đồng mạng đưa tin, bình luận… cũng cho thấy, tình báo China đã cài được vào lực lượng an ninh Việt Nam.
Tóm lại: Tình báo người Tàu ở Việt Nam và đám Việt gian, là nguy cơ lớn nhất của Việt Nam ở giai đoạn hiện nay. Nếu như không nắm và khống chế được bọn này, thì rất có thể, Bắc Kinh sẽ thực hiện một cuộc đảo chính để lập nên chính phủ bù nhìn, ôm gót chân Bắc Kinh trong thời gian tới.
25.5.2014
H.M
Tác giả gửi BVN

Tôi đi biểu tình

Tôi đi biểu tình

 

Cụ già trên 90 tuổi "tôi đi biểu tình để chống Trung Quốc xâm lăng tổ quốc"

Hoà vào đoàn người khoảng 40 người là một cụ già trên 90 tuổi. Cụ đi đứng rất vất vả. Thoạt đầu tôi cứ tưởng cụ là người dân địa phương vì tò mò mà đi theo đoàn người. Khi nghe cụ nói tiếng Việt và móc trong người ra tấm biểu ngữ (chắc do con cháu viết) ra chúng tôi mới mời cụ lên hàng đầu nhưng cụ từ chối vì chân đau.

Đó là ngày 15/5/2014 khi anh em Khối 8406 NSW dẫn đầu đoàn biểu tình, hô vang những khẩu hiệu chống bá quyền Trung Cộng. Trước đó 1 tuần khi chúng tôi quyết định biểu tình và kêu gọi 1 số các tổ chức khác cùng đi nhưng bị từ chối. Các tổ chức ở Sydney nói riêng luôn luôn sát cánh cùng cộng đồng người Việt nên chuyện họ không muốn đi chung với chúng tôi là chuyện đương nhiên dễ hiểu.

Dưới đây là một số quan điểm tôi muốn quý bạn đọc tham khảo cho ý kiến.

Một người có tiếng tăm ở Sydney bảo rằng "Biểu tình mẹ gì. Đập xập Việt cộng trước rồi đánh Trung cộng sau!".

Một người trong gia đình tôi, là cựu sĩ quan VNCH, bảo rằng "Không đi biểu tình, để cho chết hết". Tôi hỏi "Vậy Việt Nam là gì của anh?" Người đó trả lời "Tôi là người Việt Nam nhưng Việt Nam không còn là tổ quốc của tôi".

Một sinh viên du học từ Việt Nam bảo "Có lệnh từ hội sinh viên cấm đi biểu tình". Em và một số bạn xé rào nhập vào đoàn biểu tình, và em cho biết có người theo dõi nhưng em không sợ. Tối hôm đó bố mẹ em biết tin và gọi sang bảo em đừng đi biểu tình nữa.

Tại sao chính quyền kêu gọi kiều bào biểu tình nhưng ngăn cản, quấy phá và đàn áp nhân dân ngay cả nhân dân ở nước ngoài thể hiện lòng yêu nước và ý chí chống ngoại xâm? Tại vì dân trí của mình còn kém như lời phát biểu của vị Đại biểu Hoàng Hữu Phước đáng kính?

Tại sao trước 1975 ở VNCH biểu tình xãy ra ì xèo? Không lẽ dân trí trong Nam hồi đó cao hơn dân trí sau gần 40 năm thống nhất dưới sự lãnh đạo tài tình của ĐCSVN? Tôi sống trong Nam 21 năm mà chưa từng nghe một viên chức VNCH hay Mỹ nói dân trí Việt Nam thấp, vậy tại sao bây giờ như vậy? Mà việc biểu tình thể hiện lòng yêu nước và ý chí chống ngoại xâm cần dân trí cao sao?

Còn 3 triệu đảng viên, nhất là những người từng dẫn đầu biểu tình chống Mỹ Nguỵ như Huỳnh Tấn Mẫm, là những thành phần ưu tú, toàn là đĩnh cao trí tuệ loài người ở đâu mà không dám thể hiện lòng yêu nước và ý chí chống ngoại xâm?

Phạm Anh Tuấn
Chia sẻ bài viết này :

Chủ Nhật, 25 tháng 5, 2014

ÁO TRẮNG ƠI

TỰ DO – DÂN CHỦ – NHÂN QUYỀN CHO VIỆT NAM

Bỏ qua nội dung

TRANG NHÀTUYÊN NGÔN NHÂN QUYỀN QUỐC TẾTRUYỀN ÂM LIVEPHIM TÀI LIỆUNHẠC ĐẤU TRANHNHẠC CHỌN LỌC

← Viết trang sử mới

Có đúng Công hàm Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958 vô hiệu lực?

Posted on Tháng Năm 25, 2014 by aotrangoi | Để lại phản hồi

Phan Châu ThànhMọi điều cuối cùng đều dẫn đến một điểm đầu tiên: để bảo vệ lãnh thổ đất nước và tương lai Việt Nam đầu tiên phải hạ bệ chính phủ CSVN trước hết và thay bằng chính phủ dân chủ chính danh do toàn dân hơn 90 triệu người Việt khắp năm châu bầu ra để đại diện họ thừa kế non sông đất nước, lãnh thổ quốc gia mà dân tộc Việt Nam đã để lại cho đời sau, thì 90 triệu người Việt mới có thể cùng nhau đòi lại Hoàng Sa và một phần Trường Sa, và ải Nam Quan, thác Bản Giốc… từ tay Trung cộng mà CSVN đã cống nạp mới gần đây.

Tuyên bố ngày 04/9/1958 của CHNDTH“1. Chiều rộng lãnh hải của CHNDTH là 12 hải lý. Điều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước CHNDTH bao gồm phần đất Trung quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa và các quần đảo khác thuộc Trung quốc.

2. Các đường thẳng nối liền mỗi điểm cơ sở của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường cơ sở của lãnh hải dọc theo đất liền Trung quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường cơ sở là hải phận của Trung quốc. Phần biển kề trong các đường cơ sở, kể cả vịnh Bôhai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung quốc. Các đảo bên trong các đường cơ sở, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaogin, đảo Đại và Tiểu Jinmen, đảo Đadam, đảo Irdan và đảo Đongdinh, là các đảo thuộc nội hải của Trung quốc.

3. Nếu không có sự cho phép của Chính phủ CHNDTH tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung quốc đều phải tuân thủ các luật lệ liên hệ của Chính phủ CHNDTH.

4. Điều 2 và điều 3 trên cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa và các quần đảo khác thuộc Trung quốc.”

Trung quốc tuyên bố lãnh hải trên cơ sở một lãnh thổ tự nhận tự mở rộng bao gồm luôn các đảo và quần đảo của nước khác (như Tây Sa – Hoàng Sa và Nam Sa – Trường Sa của Việt Nam, Đông Sa – … của Philippines…) hoặc còn đang tranh chấp (như Đài Loan – với Trung Hoa Dân Quốc…), là một hành động bành trướng lãnh thổ thô bạo, không có cơ sở và vi phạm mọi điều luật quốc tế.

Vì thế, tuyên bố hải phận 12 hải lý tính từ đường cơ sở của TQ dù có vẻ rất rõ ràng và phù hợp thông lệ quốc tế, lại trở thành lố bịch, chỉ để che đậy đường cơ sở mà Trung quốc vẽ ra trong tuyên bố ngày 4/9/1958 rất mập mờ, tham lam phủ chùm vào lãnh thổ lãnh hải các nước khác, nên tất nhiên không ai có thể chấp nhận.

Tóm lại, tuy gọi là tuyên bố lãnh hải, nhưng thực chất đó là tuyên chiếm lãnh thổ biển đảo nước khác của CHNDTH bằng đường cơ sở mập mờ mà nó vẽ ra, sau này đã hiện nguyên hình là đường lưỡi bò chin khúc.

Thế mà…

Công hàm Phạm Văn Đồng ngày 14/9/1958 của VNDCCH“Kính gửi: Đồng chí Chu Ân Lai
Tổng lý Quốc vụ viện nước CHNDTH
Kính thưa đồng chí Tổng lý,

Chính phủ nước VNDCCH ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước CHNDTH, quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước VNDCCH tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước CHNDTH trên mặt bể.

Phạm Văn Đồng
(đã ký và đóng dấu)
Thủ tường Chính phủ nước VNDCCH”

Công hàm trên được Đại sứ VNDCCH tại Bắc Kinh Nguyễn Khang trao cho Thứ trưởng Bộ Ngoại giao TQ – Cơ Bằng Phi ngày 21/9/1958.

*Nhận xét:Chính phủ VNDCCH của HCM và PVĐ đã nhanh chóng, dường như ngay lập tức, bằng công văn ngoại giao cấp cao nhất (công hàm) qua con đường chính thức nhất (Đại sứ và đại sứ quán) chấp nhận Tuyên bố “lãnh hải” của TQ một cách trân trọng nhất:  “quyết định về lãnh hải” của TQ. Ngày 14 và 21/9/1958 lại là hai ngày chủ nhật mà CSVN vẫn làm việc miệt mài thế – thể hiện tinh thần bán nước của họ say mê như thế nào! Không biết có nước nào có văn bản, công hàm công nhận Tuyên bố “tuyên chiếm lãnh thổ nước mình” của TQ nhanh nhảu và tận tụy như VNDCCH hay không nhỉ? Chắc là chỉ có Bắc TT, nếu có?

Chúng ta hãy để ý sự phối hợp rất nhịp nhàng tương xứng giữa Tuyên bố 04/9/1958 của TQ và công hàm phúc đáp 14/9/1958 của VN như một cặp tung hứng, cứ như chúng từ một người viết ra: TQ tuyên bố về lãnh hải để che đậy tuyên chiếm lãnh thổ các nước khác và công hàm VN ngay lập tức ghi nhận và tán thành tuyên bố về lãnh hải mà thực chất là xác nhận quyền lãnh thổ của TQ đối với hai quần đảo HS và TS của chính mình!

Cho đến nay, sự phối hợp ăn ý đó vẫn đang được tiếp tục trong việc hai bên đều dùng công hàm PVĐ để làm cơ sở tạo ra tranh chấp biển giữa hai nước trên vùng biển vốn không hề có tranh chấp trước đó! Tức là họ vẫn dùng công hàm PVĐ để biến không thành có.

CHXHCN Việt Nam “phủ định” hiệu lực pháp lý của Công hàm 1958Hôm 23/5/2014, Chính phủ CHXHCN Việt Nam tuyên bố rằng công hàm của Chính phủ VNDCCH do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958 phúc đáp Tuyên bố của ngày 04/09/1958 Chính phủ CHNDTH trên là vô hiệu lực pháp lý, vì vào thời điểm đó Chính phủ VNDCCH không quản lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Tây Sa và Nam Sa), mà là Chính phủ Việt Nam Cộng hòa (VNCH)! Tức là, “VNDCCH không thể cho CHNDTH cái mà mình không có, không quản lý; hay: Người ta không thể từ bỏ cái mà người ta không sở hữu”. Nhiều người cho rằng đó là lập luận thuyết phục!

Như vậy, CP CHXHCN VN cho rằng việc chính mình (CP VNDCCH trước đó) ngày 14/9/1958 đã công nhận chủ quyền của TQ đối với các quần đảo HS và TS là vô hiệu lực pháp lý.

Theo tôi, CP CHXNCH VN lập luận và tuyên bố như trên để coi Công hàm PVĐ vô hiệu lực là đánh tráo khái niệm một cách rất ấu trĩ và vì thế sai hoàn toàn. Bởi vì, người ta hoàn toàn có thể từ bỏ quyền sở hữu cái mà người ta không sở hữu bằng cách xác nhận cái đó thuộc quyền sở hữu của người khác. Và công hàm PVĐ đã làm điều đó. Công hàm PVĐ đã xác nhận (ghi nhận và tán thành) hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung quốc, bất kể lúc đó chúng đang do ai quản lý.

Kết quả tất nhiên là, Công hàm PVĐ trên của VNDCCH vẫn có hiệu lực cho đến nay: xác nhận quyền sở hữu của TQ đối với HS và TS, tức là phủ nhận quyền sở hữu của VN (hay bất cứ ai) đối với hai quần đảo và vùng biển đó.

Chính phủ VN có biết rằng việc họ phủ nhận công hàm PVĐ của họ như thế là hề và vô ích không? Tôi tin là họ biết, TQ càng biết rõ, vì thế họ mới để cho một cán bộ cấp thấp như thế nói ra điều đó. Còn nếu điều đó thực sự đúng và có hiệu quả, sẽ giúp VN đòi được HS, TS từ tay TQ thì mấy kẻ “tứ trụ” điếm, nhất là 3X, sẽ giành nói ngay nói lớn để ghi công lớn cho mình rồi. Một công lớn cỡ đó đủ để 3X ngồi ghế CTN và TBT như Tập hay Tổng thống như Putin trong 10 năm nữa chứ bỡn?

Biết vậy tại sao họ vẫn làm thế? Là để đóng kịch trước nhân dân Việt Nam rằng họ “vô can”. Tất cả là tại TQ tham lam và bành trướng mà thôi…, nhưng họ “sợ bát nước đổ đi không hót lại được” nên họ sẽ không kiện TQ ra tòa QT – mà chỉ “dọa TQ” thôi… để giữ “bát nước Tàu cho” mà húp chứ…!

Các quan điểm khác cho rằng công hàm PVĐ vô hiệu lựcNgoài quan điểm và tuyên bố chính thức mới nhất trên về hiệu lực của Công hàm PVĐ dựa trên bối cảnh thực tế thời điểm VNDCCH ký công hàm, còn có vài quan điểm khác cũng cho rằng công hàm đó vô hiệu lực pháp lý do bối cảnh hay do hành văn ẩn ý, như:

. Công hàm PVĐ chỉ nói đến lãnh hải 12 hải lý chứ có nói đến HS TS đâu? Đây là cách lừa dân thô thiển của CSVN khi họ nói đến công hàm PVĐ mà không đưa ra cho Tuyên bố ngày 4/9/1958 của TQ chính là nguyên nhân phải có công hàm đó. Có người còn nghi ngờ rằng công hàm VN và Tuyên bố TQ là do cùng một nhóm soạn thảo từ trước, PVĐ chỉ việc ký thôi.

(Có người còn đùa: Chủ nhật 14/9/58, Bác gọi chú Đồng sang Phủ Chủ tịch chơi rồi đưa công hàm Bác đã đánh máy sẵn để chú ký mang về VPCP bên cạnh để gửi ngay đi Bắc Kinh…)

 Chữ ký của PVĐ không có hiệu lực vì PVĐ là thủ tướng lúc đó do đảng phân công, không đúng trình tự được qui định cho việc bổ nhiệm Thủ tướng trong Hiến pháp 1946 (đang “có hiệu lực” lúc đó) qui định Thủ tướng do Chủ tịch nước chọn từ Nội các rồi phải được Quốc hội phê chuẩn… Vì thế, người đứng đầu chính phủ VNDCCH lúc đó là HCM, không phải PVĐ.

. Thủ tướng PVĐ không có quyền hạn tự ký công hàm về các vấn đề lãnh thổ mà phải được Quốc hội đồng ý và phê chuẩn quan điểm, nội dung trước đó. Có nghĩa là PVĐ đã ký công hàm 1958 vượt quyền hạn cho phép…

. Công hàm PVĐ chỉ là thư công ngoại giao (diplomatic notes), không có hiệu lực pháp lý quốc tế….?

Trong các lập luận trên, chỉ có lập luận đầu tiên hay được nói đến là đáng bàn kỹ thêm, đó là, công hàm PVĐ vô hiệu lực vì hành văn ẩn ý của nó tránh nói đến HS và TS. Vậy nên hiểu thế nào về câu:  Đây là câu phức hợp có hai mệnh đề tách nhau bởi dấu phẩy mà mệnh đề chính đi trước, mệnh đề sau là phụ.

Có người nói, đó là CPVN chỉ ghi nhận và tán thành phần quyết định về hải phận 12 hải lý của TQ mà thôi, để biện minh cho tính vô tội của công hàm PVĐ. Hiểu thế có đúng không?

Mệnh đề chính nói đến Tuyên bố ngày 04/9/1958 của TQ và VN hoàn toàn tán thành 4 điểm chính của nó, và thế là hoàn toàn đủ ý trọn câu, có thể chấm hết câu ở đây:  Nếu Tuyên bố của TQ đó có một số hiệu văn bản riêng và rõ ràng (như ngày nay mọi công ty con tý nhất khi ra bất kỳ văn bản nào đó cũng phải có số công văn bên cạnh ngày ra công văn để phân biệt và lưu trữ thông tin), thì câu trên chỉ cần ghi cả mã số của Tuyên bố của TQ đó là xong, không cần có mệnh đề phụ sau dấu phẩy để phân biệt với ác tuyên bố khác nếu có nữa.

Chính vì TQ đã không có số văn bản cho Tuyên bố ngày 04/9/1958 nên nếu trong ngày đó TQ phát ra nhiều hơn 2 tuyên bố gì đó thì trả lời ngày 14/9/1958 của VN (cũng lại không có mã số văn bản, dù là chỉ cho nhu cầu lưu trữ!) sẽ khó hiểu, vì không biết là cho Tuyên bố nào của TQ. Vì thế, công hàm của PVĐ ký trong câu đầu dù đã đủ trọn ý muốn nói là ghi nhận và tán thành hoàn toàn Tuyên bố ngày 4/9/58 của TQ, bao gồm cả việc Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ và lãnh hải của Trung quốc rồi, thì PVĐ vẫn phải có thêm mệnh đề phụ để nói rõ là mình ghi nhận và tán thành cái tuyên bố nào của TQ! Thế thôi… Có hay không có mệnh đề phụ ở câu đầu thì ý chính vẫn đã trọn như thế, và câu sau chỉ là “xin hứa” về cách triển khai thực hiện sự tôn trọng hải phận 12 hải lý của TQ để tạo cảm giác là công hàm chỉ nói đến hải phận 12 hải lý?! Nhưng tất cả đã được định đoạt trong một mệnh đề chính của câu đầu tiên của công hàm PVĐ rồi.

Còn nếu PVĐ (hay HCM) muốn nói tôi chỉ ghi nhận và tán thành phần về hải phận 12 hải lý trong tuyên bố ngày 04/9/1958 của TQ thì Chính phủ VN phải viết (bằng tiếng Việt) như sau:

“Chính phủ nước VNDCCH ghi nhận và tán thành phần về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước CHNDTH. Riêng phần về lãnh thổ TQ bao gồm cả quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa của VN chúng tôi) và Nam Sa (Trường Sa của VN chúng tôi) thì chúng tôi xin không đồng ý và đề nghị đồng chí Tổng lý xem lại trên tinh thần “môi hở răng lạnh” mà Mao Chủ tịch đã dạy bảo chúng ta…

Hẳn đồng chí Tổng lý còn nhớ cách đây 4 năm ở Hội nghị Geneve đồng chí đã khuyên tôi cắt phần đất và biển đảo VN sau Vĩ tuyến 17 về phía Nam, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cho chính quyền ông Ngô Đình Diệm tạm thời quản lý, để sau này các đồng chí sẽ giúp chúng tôi xây dựng XHCN mạnh hơn rồi mới giúp chúng tôi lấy lại phần đất và biển đảo đó?

Về phần biển phía Bắc Vĩ tuyến 17, Chính phủ nước VNDCCH tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước CHNDTH trên mặt bể. ”

By the way, tiện thể, tôi rất ngạc nhiên khi thấy đến 1958 và ở cấp cao nhất (chính phủ) với các vấn đề quan trọng nhất (lãnh thổ, lãnh hải) mà chính phủ cả TQ và VN đều chưa áp dụng chế độ mã số công văn giao dịch nội ngoại để theo dõi, phân biệt, lưu trữ và bảo quản tài liệu, thông tin? Hay là chỉ có hai công văn (Tuyên bố 4/9/58 và công hàm 14/9/58) trên là ngoại lệ “ngoài luồng”, không do và không qua hệ thống văn thư của VPCP VN viết ra và lưu trữ? Việc này có thể kiểm tra khá dễ dàng nếu hai chính phủ muốn làm sáng tỏ?

Còn nhớ, có lần tôi đã hỏi ba tôi: Ba ơi, mấy ký mã hiệu trong góc giấy khai sinh của chị và con sao lại giống nhau dù chúng con được sinh ở hai thành phố khác nhau (HN và NĐ)? Ba tôi thú nhận: Hồi 1958, sau khi các con sinh ra, lúc đó ba là thư ký một nhà máy cơ khí ở HN và ba đã tự đánh máy giấy khai sinh của các con, tự cho số mã hiệu vào đó cho giống văn thư nhà nước, tự mua tem dán vào như là có công chứng… để các con có tiêu chuẩn làm sổ gạo cùng ba mẹ, không thì nhà ta đói to… Như thế có nghĩa là, năm 1958, ba tôi, một chiến sĩ quân giới tiểu đoàn 307, mới có tiểu học đã bỏ đi làm ở Ba Son, rồi đi bộ đội, còn biết cho mã số vào giấy khai sinh của chúng tôi cơ mà?…

Tại sao nói CPVN không thể phủ nhận hiệu lực pháp lý của công hàm PVĐ?Trước khi trình bày quan điểm của mình cho rằng dù CP CHXHCN VN hiện nay có nói gì thì công hàm PVĐ vẫn có hiệu lực pháp lý, tôi xin nói rõ mong muốn của cá nhân tôi cũng như của đại đa số người Việt Nam thôi, rằng giá mà công hàm PVĐ vô hiệu lực, hoặc giá mà không hề tồn tại công hàm PVĐ thì tốt hơn cho dân tộc Việt Nam. Nhưng chúng ta vẫn cần phải đối diện sự thực để vượt qua nó.

, công hàm PVĐ là một văn bản pháp lý quốc tế thể hiện quan điểm chính thức của Chính phủ VNDCCH, nay là CHXHCN VN mà PVĐ là Thủ tướng của cả hai chính phủ đó trong hơn 32 năm (1947-1975: VNDCCH, 1975-1979: CHXHCNVN) về một vấn đề quốc tế: về lãnh thổ và lãnh hải của TQ. Quan điểm đó tồn tại chừng nào chính phủ đó hay hậu duệ và/hoặc thừa kế của nó tồn tại mà không có công hàm pháp lý chính thức khác cấp cao hơn bác bỏ hay phủ nhận nó.

Hiện nay, hậu duệ thừa kế của VNDCCH là CHXHCNVN chưa có văn bản pháp lý nào cấp cao hơn công hàm cấp Chính phủ do người đứng đầu CP ký như công hàm PVĐ ngày 14/9/1958 phủ nhận công hàm PVĐ thì công hàm PVĐ năm 1958 vẫn hoàn toàn còn hiệu lực.

, dù nội dung công hàm 1958 của PVĐ là xác nhận chủ quyền của TQ đối với hai quần đảo HS và TS là nơi lúc đó không thuộc quyền quản lý của Chính phủ VNDCCH thì sự công nhận đó vẫn có hiệu lực pháp lý đối với chính phủ ra công hàm đó, bởi vì quan điểm là cam kết hoặc là niềm tin.

Ví dụ, khi Thủ tướng Cămpuchia tuyên bố xác nhận HS và TS là của TQ thì công hàm đó có hiệu lực pháp lý không? Có. Chính phủ Campuchia có thể nói: “Vì tôi không quản lý HS và TS nên những gì tôi nói về HS và TS là không có giá trị pháp lý!” Không? Không! CP Campuchia cam kết gì qua tuyên bố đó? Họ cam kết rằng khi cần hành động liên quan đến HS và TS họ sẽ tuân theo ý muốn của TQ mà họ coi là chủ của HS và TS. Như thế, tuyên bố đó vẫn có giá trị pháp lý và Chính phủ Campuchia phải chịu mọi trách nhiệm về tuyên bố đó của mình. Nếu họ giữ nó – quan hệ với VN sẽ sứt mẻ có hại cho Cămpuchia, nếu không giữ nó, quan hệ với TQ sẽ sứt mẻ, sẽ không có 20 tỷ đôla viện trợ của TQ nữa… cho đến khi họ chính thức thay đổi quan điểm đó.

, trong trường hợp công hàm PVĐ năm 1958 của VN, VN không chỉ là bên thứ ba thể hiện quan điểm về vấn đề/sự việc của các bên khác, mà VN (DCCH) luôn tự tuyên bố mình mới là “kẻ thừa kế chính thức” lãnh thổ của chính phủ VNCH – tức là CP VNDCCH là “kẻ có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan”, lại càng không thể chạy trốn trách nhiệm và tuyên bố những gì mình nói là vô giá trị pháp lý.

, công hàm PVĐ là một công văn ngắn chỉ có hai câu và nội dung rất chung chung chỉ nhằm ghi nhận và tàn thành Tuyên bố ngày 4/9/1958 của TQ mà thôi, và bất kỳ chính phủ nào ký nó cũng phù hợp và cơ lợi cho TQ, và sự tán thành đó có thể có hiệu lực vượt thời gian. Ví dụ, nếu thay PVĐ và CPVN bằng Hunsen và CP CPC (hay Kim và CP Bắc TT…) thì ta có “công hàm” như:

“Kính gửi: đồng chí Chu Ân Lai
Tổng lý Quốc vụ viện nước CHNDTH
Kính thưa đồng chí Tổng lý,

Chính phủ nước Campuchia Dân chủ/CHNDTT ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước CHNDTH, quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước CPC DC/CHNDTT tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước CHNDTH trên mặt bể.

Hunsen/Kim
(đã ký và đóng dấu)
Thủ tướng Chính phủ nước CPC DC/CHNDTT”

Tức là ai ký cũng được, chỉ cần có người ký. Tức là công hàm này có thể đã được ai đó viết sẵn cho PVĐ ký thôi.

Đó là chưa kể, cách hành văn không phải của người Việt của hai câu văn duy nhất của công hàm PVĐ đều giống nhau đó là cấu trúc câu hai mệnh đề chính trước phụ sau (người Việt thích nói phụ trước chính sau) và tách biệt nhau cộc lốc bởi dấu phẩy (người Việt sẽ thích dùng liên từ để nối hai mệnh đề cho câu văn mềm dẻo đi như “với”, “về” (cho câu đầu) hay bỏ dấu phẩy nếu không cần thiết (cho câu sau).

Tất cả những điều trên chỉ ra rằng, không chỉ nói một công văn nòa đó vô hiệu lực là nó vô hiệu lực. Nếu TQ dựa trên công hàm 1958 của PVĐ để “chứng minh” cho chủ quyền của họ đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước Tòa án quốc tế, và bên nguyên đơn là chính phủ CSVN chính là kẻ đã ra công hàm đó, thì cái lý, cái chính nghĩa tất nhiên không còn thuộc về VN nữa, vì đã là kẻ viết và ký công hàm 1958 tự bán nước đó rồi.

Thế cho nến, vấn đề ở đây là không chỉ là kiện TQ mà còn phải là ai kiện TQ – Chính phủ CSVN hay chính phủ khác của nhân dân VN? Bởi vì, đã là kiến thì không kiện được khoai, phải là đá…

Ai có thể phủ nhận tính pháp lý của công hàm PVĐ 1958?Câu trả lời khá đơn giản, đó là chính phủ thừa kế và là hậu duệ chính trị của chính phủ đã quản lý HS TS và phản đối TQ đến cùng (bằng hành động chiến đấu bảo vệ HS) – chính phủ VNCH. Có nghĩa là, đó sẽ không phải là chính phủ CSVN hiện nay hay các biến thể trá hình của nó nếu có sau này. Có nghĩa là, đó sẽ phải là một chính phủ hậu cộng sản, một chính phủ dân chủ.

Nhưng nếu đó sẽ là một chính phủ hậu cộng sản, một chính phủ dân chủ của VN sau này, thì để đòi lại HS TS họ có cần phủ nhận công hàm PVĐ nữa không? Không. Cùng với sự sụp đổ của chính phủ cộng sản, mọi cam kết, thỏa thuận hay quan điểm của chính phủ CSVN với TQ tự động trở nên vô hiệu lực pháp lý. Lúc đó, TQ (nếu còn) thì cũng không thể dùng các loại thỏa thuận kiểu công hàm 1958 hay cam kết thành đô 1990 của đảng CSVN để xâm chiếm biển đảo và lãnh thổ Việt Nam được nữa.

Mọi điều cuối cùng đều dẫn đến một điểm đầu tiên: để bảo vệ lãnh thổ đất nước và tương lai Việt Nam đầu tiên phải hạ bệ chính phủ CSVN trước hết và thay bằng chính phủ dân chủ chính danh do toàn dân hơn 90 triệu người Việt khắp năm châu bầu ra để đại diện họ thừa kế non sông đất nước, lãnh thổ quốc gia mà dân tộc Việt Nam đã để lại cho đời sau, thì 90 triệu người Việt mới có thể cùng nhau đòi lại Hoàng Sa và một phần Trường Sa, và ải Nam Quan, thác Bản Giốc… từ tay Trung cộng mà CSVN đã cống nạp mới gần đây.

Phan Châu Thành
danlambaovn.blogspot.com

About these ads

This entry was posted in Áo Trắng ơi. Bookmark the permalink.

GỬI PHẢN HỒI

BÀI MỚICó đúng Công hàm Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958 vô hiệu lực?Viết trang sử mớiThêm một nhà hoạt động bị côn đồ tấn công gây thương tích nặng nềLòng yêu nước bị chà đạp và cung cách làm việc của công an CSVNBuồn cười, thỉnh nguyện thưVải thưa che mắt ai?CSVN liệu có biết: xấu hổ, hối hận và ngậm ngùi?Trung cộng được và mất gì trong biến cố giàn khoan HD-981?Cáo Phó và Tuyên cáo của Gia Đình Phật tử Việt Nam (GĐPTVN) về cuộc tự thiêu của Huynh trưởng Đồng Xuân Lê Thị Tuyết MaiFBI Đã Truy Lùng 5 Tin Tặc Trung Quốc Như Thế Nào?Bình thường và bất bình thườngĐổi chác tệ hại với Việt NamBí mật không thể bị mấtPhật tử GHPGVNTN tự thiêu để bảo vệ Đạo pháp, chống Trung Quốc xâm lượcTuyên cáo của Hội đồng Lưỡng Viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất về việc Trung quốc vi phạm lãnh hải Việt NamCơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) – cơ hội cho những nhà hoạt động Việt Nam?Trung cộng: không cần phải đánh Việt Nam chúng nó!!!???Quyền Biểu TìnhNhững di sản làm chạm nọc người cộng sảnCông nhận tính phi pháp của công hàm 1958 rồi sao nữa?Kết hợp “thế” và “lực”, để cứu nước và cứu mình! – Gửi tới những người CS và người “theo” CSTrung Quốc ép dân Việt ký tên vào bản đồ ‘lưỡi bò’“Hữu nghị viển vông, lệ thuộc”… quả bồ hòn đã thực sự nhè ra chưa?AP: In Vietnam, Rare Self-Immolation Highlights Anger Against China * Tại Việt Nam, cuộc tự thiêu hiếm hoi làm nổi bật cơn giận chống Trung cộngViệt Nam đối đầu Trung Quốc: Người thuyền trưởng đã chìm theo tàu của mìnhVN bác bỏ Công hàm Phạm Văn ĐồngĐừng gọi Việt Nam Cộng Hòa là ngụy nữa nhéPhẫn nộ hãng tin uy tín Nga xuyên tạc lịch sử, vu khống Việt NamViệt Nam Thất bại trong quá khứ và bài học cho hôm nayVũng Áng, Bình Dương là hậu quả của món nợ 20 năm mà Nhà nước cứ khất lần này qua lần khác với người dânMạn đàm về “sai lầm chính trị”NÓNG: Sài Gòn – Tự thiêu trước Dinh Độc Lập 23/5/2014Việt Nam – Hậu HD981Việt Nam, một con giun đang quằn quại dưới lưỡi cày Trung QuốcHai bước cần thiết“Công hàm Phạm Văn Đồng làm lung lay yêu sách chủ quyền của Việt Nam”Can đảm làm nên lịch sửChủ trương của ngành công an đưa tôi đi trại phục hồi nhân phẩmSợi xích nào trói chặt Hà Nội vào Bắc Kinh?Người Việt Nam ơi! Coi chừng nó đó!Khi công an biết cầu Trời khấn Phật !?Ông Hạ Đình Nguyên! Ông giết lâm sàng công cuộc chuyển biến sang thể chế tự do dân chủ đa đảng tại Việt Nam rồi!Bộ mặt hèn của Phùng đại tướngKhông thể ngồi yênKể chuyện biểu tình yêu nước ngày 18/5/2014Thế nước biến: Đảng cộng sản phải ra điĐẹp lòng kẻ xâm lược, nỗi đau của nhân dân, của lịch sử Việt NamLòng đau đớn khi con nhìn người mẹ trong cơn đau quằn quạiHãy giật mìnhBÌNH LUẬN TIN TỨC: CSVN công nhận Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Trung CộngLƯU TRỮTháng Năm 2014Tháng Tư 2014Tháng Ba 2014Tháng Hai 2014Tháng Một 2014Tháng Mười Hai 2013Tháng Mười Một 2013Tháng Mười 2013Tháng Chín 2013Tháng Tám 2013Tháng Bảy 2013Tháng Sáu 2013Tháng Năm 2013Tháng Tư 2013Tháng Ba 2013Tháng Hai 2013Tháng Một 2013Tháng Mười Hai 2012Tháng Mười Một 2012Tháng Mười 2012Tháng Chín 2012Tháng Tám 2012Tháng Bảy 2012Tháng Sáu 2012Tháng Năm 2012Tháng Tư 2012Tháng Ba 2012Tháng Hai 2012Tháng Một 2012Tháng Mười Hai 2011Tháng Mười Một 2011Tháng Mười 2011Tháng Chín 2011Tháng Tám 2011Tháng Bảy 2011Tháng Sáu 2011Tháng Năm 2011Tháng Tư 2011Tháng Ba 2011Tháng Hai 2011Tháng Một 2011Tháng Mười Hai 2010Tháng Mười Một 2010Tháng Một 2010

TÌM KIẾM

Search for:

ĐỌC NHIỀU NHẤTBình thường và bất bình thườngĐổi chác tệ hại với Việt NamBí mật không thể bị mấtÔng Trần Dần TIÊN ĐOÁN SỰ GIẢI THỂ ĐẢNG CỘNG SẢN ĐỘC TÀI VN DO DÂN LẬT ĐỔCó đúng Công hàm Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958 vô hiệu lực?Vải thưa che mắt ai?Phật tử GHPGVNTN tự thiêu để bảo vệ Đạo pháp, chống Trung Quốc xâm lượcFBI Đã Truy Lùng 5 Tin Tặc Trung Quốc Như Thế Nào?Những di sản làm chạm nọc người cộng sảnViết trang sử mớiCHUYÊN MỤCAudioÁo Trắng ơiBang GiaoBình LuậnBiếm HọaKinh TếNhạcPháp LuậtPhiếm LuậnQuan điểmSức KhỏesbtnTâm ThưTôn GiáoTự Do Dân Chủ Cho Việt NamTin Thế GiớiTin Việt NamVideosĐọc Báo Vẹm

Blog at WordPress.com. The Coraline Theme.


hàm

ÁO TRẮNG ƠI

TỰ DO – DÂN CHỦ – NHÂN QUYỀN CHO VIỆT NAM

Bỏ qua nội dung

TRANG NHÀTUYÊN NGÔN NHÂN QUYỀN QUỐC TẾTRUYỀN ÂM LIVEPHIM TÀI LIỆUNHẠC ĐẤU TRANHNHẠC CHỌN LỌC

← Viết trang sử mới

Có đúng Công hàm Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958 vô hiệu lực?

Posted on Tháng Năm 25, 2014 by aotrangoi | Để lại phản hồi

Phan Châu ThànhMọi điều cuối cùng đều dẫn đến một điểm đầu tiên: để bảo vệ lãnh thổ đất nước và tương lai Việt Nam đầu tiên phải hạ bệ chính phủ CSVN trước hết và thay bằng chính phủ dân chủ chính danh do toàn dân hơn 90 triệu người Việt khắp năm châu bầu ra để đại diện họ thừa kế non sông đất nước, lãnh thổ quốc gia mà dân tộc Việt Nam đã để lại cho đời sau, thì 90 triệu người Việt mới có thể cùng nhau đòi lại Hoàng Sa và một phần Trường Sa, và ải Nam Quan, thác Bản Giốc… từ tay Trung cộng mà CSVN đã cống nạp mới gần đây.

Tuyên bố ngày 04/9/1958 của CHNDTH“1. Chiều rộng lãnh hải của CHNDTH là 12 hải lý. Điều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước CHNDTH bao gồm phần đất Trung quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa và các quần đảo khác thuộc Trung quốc.

2. Các đường thẳng nối liền mỗi điểm cơ sở của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường cơ sở của lãnh hải dọc theo đất liền Trung quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường cơ sở là hải phận của Trung quốc. Phần biển kề trong các đường cơ sở, kể cả vịnh Bôhai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung quốc. Các đảo bên trong các đường cơ sở, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaogin, đảo Đại và Tiểu Jinmen, đảo Đadam, đảo Irdan và đảo Đongdinh, là các đảo thuộc nội hải của Trung quốc.

3. Nếu không có sự cho phép của Chính phủ CHNDTH tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung quốc đều phải tuân thủ các luật lệ liên hệ của Chính phủ CHNDTH.

4. Điều 2 và điều 3 trên cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa và các quần đảo khác thuộc Trung quốc.”

Trung quốc tuyên bố lãnh hải trên cơ sở một lãnh thổ tự nhận tự mở rộng bao gồm luôn các đảo và quần đảo của nước khác (như Tây Sa – Hoàng Sa và Nam Sa – Trường Sa của Việt Nam, Đông Sa – … của Philippines…) hoặc còn đang tranh chấp (như Đài Loan – với Trung Hoa Dân Quốc…), là một hành động bành trướng lãnh thổ thô bạo, không có cơ sở và vi phạm mọi điều luật quốc tế.

Vì thế, tuyên bố hải phận 12 hải lý tính từ đường cơ sở của TQ dù có vẻ rất rõ ràng và phù hợp thông lệ quốc tế, lại trở thành lố bịch, chỉ để che đậy đường cơ sở mà Trung quốc vẽ ra trong tuyên bố ngày 4/9/1958 rất mập mờ, tham lam phủ chùm vào lãnh thổ lãnh hải các nước khác, nên tất nhiên không ai có thể chấp nhận.

Tóm lại, tuy gọi là tuyên bố lãnh hải, nhưng thực chất đó là tuyên chiếm lãnh thổ biển đảo nước khác của CHNDTH bằng đường cơ sở mập mờ mà nó vẽ ra, sau này đã hiện nguyên hình là đường lưỡi bò chin khúc.

Thế mà…

Công hàm Phạm Văn Đồng ngày 14/9/1958 của VNDCCH“Kính gửi: Đồng chí Chu Ân Lai
Tổng lý Quốc vụ viện nước CHNDTH
Kính thưa đồng chí Tổng lý,

Chính phủ nước VNDCCH ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước CHNDTH, quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước VNDCCH tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước CHNDTH trên mặt bể.

Phạm Văn Đồng
(đã ký và đóng dấu)
Thủ tường Chính phủ nước VNDCCH”

Công hàm trên được Đại sứ VNDCCH tại Bắc Kinh Nguyễn Khang trao cho Thứ trưởng Bộ Ngoại giao TQ – Cơ Bằng Phi ngày 21/9/1958.

*Nhận xét:Chính phủ VNDCCH của HCM và PVĐ đã nhanh chóng, dường như ngay lập tức, bằng công văn ngoại giao cấp cao nhất (công hàm) qua con đường chính thức nhất (Đại sứ và đại sứ quán) chấp nhận Tuyên bố “lãnh hải” của TQ một cách trân trọng nhất:  “quyết định về lãnh hải” của TQ. Ngày 14 và 21/9/1958 lại là hai ngày chủ nhật mà CSVN vẫn làm việc miệt mài thế – thể hiện tinh thần bán nước của họ say mê như thế nào! Không biết có nước nào có văn bản, công hàm công nhận Tuyên bố “tuyên chiếm lãnh thổ nước mình” của TQ nhanh nhảu và tận tụy như VNDCCH hay không nhỉ? Chắc là chỉ có Bắc TT, nếu có?

Chúng ta hãy để ý sự phối hợp rất nhịp nhàng tương xứng giữa Tuyên bố 04/9/1958 của TQ và công hàm phúc đáp 14/9/1958 của VN như một cặp tung hứng, cứ như chúng từ một người viết ra: TQ tuyên bố về lãnh hải để che đậy tuyên chiếm lãnh thổ các nước khác và công hàm VN ngay lập tức ghi nhận và tán thành tuyên bố về lãnh hải mà thực chất là xác nhận quyền lãnh thổ của TQ đối với hai quần đảo HS và TS của chính mình!

Cho đến nay, sự phối hợp ăn ý đó vẫn đang được tiếp tục trong việc hai bên đều dùng công hàm PVĐ để làm cơ sở tạo ra tranh chấp biển giữa hai nước trên vùng biển vốn không hề có tranh chấp trước đó! Tức là họ vẫn dùng công hàm PVĐ để biến không thành có.

CHXHCN Việt Nam “phủ định” hiệu lực pháp lý của Công hàm 1958Hôm 23/5/2014, Chính phủ CHXHCN Việt Nam tuyên bố rằng công hàm của Chính phủ VNDCCH do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958 phúc đáp Tuyên bố của ngày 04/09/1958 Chính phủ CHNDTH trên là vô hiệu lực pháp lý, vì vào thời điểm đó Chính phủ VNDCCH không quản lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Tây Sa và Nam Sa), mà là Chính phủ Việt Nam Cộng hòa (VNCH)! Tức là, “VNDCCH không thể cho CHNDTH cái mà mình không có, không quản lý; hay: Người ta không thể từ bỏ cái mà người ta không sở hữu”. Nhiều người cho rằng đó là lập luận thuyết phục!

Như vậy, CP CHXHCN VN cho rằng việc chính mình (CP VNDCCH trước đó) ngày 14/9/1958 đã công nhận chủ quyền của TQ đối với các quần đảo HS và TS là vô hiệu lực pháp lý.

Theo tôi, CP CHXNCH VN lập luận và tuyên bố như trên để coi Công hàm PVĐ vô hiệu lực là đánh tráo khái niệm một cách rất ấu trĩ và vì thế sai hoàn toàn. Bởi vì, người ta hoàn toàn có thể từ bỏ quyền sở hữu cái mà người ta không sở hữu bằng cách xác nhận cái đó thuộc quyền sở hữu của người khác. Và công hàm PVĐ đã làm điều đó. Công hàm PVĐ đã xác nhận (ghi nhận và tán thành) hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung quốc, bất kể lúc đó chúng đang do ai quản lý.

Kết quả tất nhiên là, Công hàm PVĐ trên của VNDCCH vẫn có hiệu lực cho đến nay: xác nhận quyền sở hữu của TQ đối với HS và TS, tức là phủ nhận quyền sở hữu của VN (hay bất cứ ai) đối với hai quần đảo và vùng biển đó.

Chính phủ VN có biết rằng việc họ phủ nhận công hàm PVĐ của họ như thế là hề và vô ích không? Tôi tin là họ biết, TQ càng biết rõ, vì thế họ mới để cho một cán bộ cấp thấp như thế nói ra điều đó. Còn nếu điều đó thực sự đúng và có hiệu quả, sẽ giúp VN đòi được HS, TS từ tay TQ thì mấy kẻ “tứ trụ” điếm, nhất là 3X, sẽ giành nói ngay nói lớn để ghi công lớn cho mình rồi. Một công lớn cỡ đó đủ để 3X ngồi ghế CTN và TBT như Tập hay Tổng thống như Putin trong 10 năm nữa chứ bỡn?

Biết vậy tại sao họ vẫn làm thế? Là để đóng kịch trước nhân dân Việt Nam rằng họ “vô can”. Tất cả là tại TQ tham lam và bành trướng mà thôi…, nhưng họ “sợ bát nước đổ đi không hót lại được” nên họ sẽ không kiện TQ ra tòa QT – mà chỉ “dọa TQ” thôi… để giữ “bát nước Tàu cho” mà húp chứ…!

Các quan điểm khác cho rằng công hàm PVĐ vô hiệu lựcNgoài quan điểm và tuyên bố chính thức mới nhất trên về hiệu lực của Công hàm PVĐ dựa trên bối cảnh thực tế thời điểm VNDCCH ký công hàm, còn có vài quan điểm khác cũng cho rằng công hàm đó vô hiệu lực pháp lý do bối cảnh hay do hành văn ẩn ý, như:

. Công hàm PVĐ chỉ nói đến lãnh hải 12 hải lý chứ có nói đến HS TS đâu? Đây là cách lừa dân thô thiển của CSVN khi họ nói đến công hàm PVĐ mà không đưa ra cho Tuyên bố ngày 4/9/1958 của TQ chính là nguyên nhân phải có công hàm đó. Có người còn nghi ngờ rằng công hàm VN và Tuyên bố TQ là do cùng một nhóm soạn thảo từ trước, PVĐ chỉ việc ký thôi.

(Có người còn đùa: Chủ nhật 14/9/58, Bác gọi chú Đồng sang Phủ Chủ tịch chơi rồi đưa công hàm Bác đã đánh máy sẵn để chú ký mang về VPCP bên cạnh để gửi ngay đi Bắc Kinh…)

 Chữ ký của PVĐ không có hiệu lực vì PVĐ là thủ tướng lúc đó do đảng phân công, không đúng trình tự được qui định cho việc bổ nhiệm Thủ tướng trong Hiến pháp 1946 (đang “có hiệu lực” lúc đó) qui định Thủ tướng do Chủ tịch nước chọn từ Nội các rồi phải được Quốc hội phê chuẩn… Vì thế, người đứng đầu chính phủ VNDCCH lúc đó là HCM, không phải PVĐ.

. Thủ tướng PVĐ không có quyền hạn tự ký công hàm về các vấn đề lãnh thổ mà phải được Quốc hội đồng ý và phê chuẩn quan điểm, nội dung trước đó. Có nghĩa là PVĐ đã ký công hàm 1958 vượt quyền hạn cho phép…

. Công hàm PVĐ chỉ là thư công ngoại giao (diplomatic notes), không có hiệu lực pháp lý quốc tế….?

Trong các lập luận trên, chỉ có lập luận đầu tiên hay được nói đến là đáng bàn kỹ thêm, đó là, công hàm PVĐ vô hiệu lực vì hành văn ẩn ý của nó tránh nói đến HS và TS. Vậy nên hiểu thế nào về câu:  Đây là câu phức hợp có hai mệnh đề tách nhau bởi dấu phẩy mà mệnh đề chính đi trước, mệnh đề sau là phụ.

Có người nói, đó là CPVN chỉ ghi nhận và tán thành phần quyết định về hải phận 12 hải lý của TQ mà thôi, để biện minh cho tính vô tội của công hàm PVĐ. Hiểu thế có đúng không?

Mệnh đề chính nói đến Tuyên bố ngày 04/9/1958 của TQ và VN hoàn toàn tán thành 4 điểm chính của nó, và thế là hoàn toàn đủ ý trọn câu, có thể chấm hết câu ở đây:  Nếu Tuyên bố của TQ đó có một số hiệu văn bản riêng và rõ ràng (như ngày nay mọi công ty con tý nhất khi ra bất kỳ văn bản nào đó cũng phải có số công văn bên cạnh ngày ra công văn để phân biệt và lưu trữ thông tin), thì câu trên chỉ cần ghi cả mã số của Tuyên bố của TQ đó là xong, không cần có mệnh đề phụ sau dấu phẩy để phân biệt với ác tuyên bố khác nếu có nữa.

Chính vì TQ đã không có số văn bản cho Tuyên bố ngày 04/9/1958 nên nếu trong ngày đó TQ phát ra nhiều hơn 2 tuyên bố gì đó thì trả lời ngày 14/9/1958 của VN (cũng lại không có mã số văn bản, dù là chỉ cho nhu cầu lưu trữ!) sẽ khó hiểu, vì không biết là cho Tuyên bố nào của TQ. Vì thế, công hàm của PVĐ ký trong câu đầu dù đã đủ trọn ý muốn nói là ghi nhận và tán thành hoàn toàn Tuyên bố ngày 4/9/58 của TQ, bao gồm cả việc Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ và lãnh hải của Trung quốc rồi, thì PVĐ vẫn phải có thêm mệnh đề phụ để nói rõ là mình ghi nhận và tán thành cái tuyên bố nào của TQ! Thế thôi… Có hay không có mệnh đề phụ ở câu đầu thì ý chính vẫn đã trọn như thế, và câu sau chỉ là “xin hứa” về cách triển khai thực hiện sự tôn trọng hải phận 12 hải lý của TQ để tạo cảm giác là công hàm chỉ nói đến hải phận 12 hải lý?! Nhưng tất cả đã được định đoạt trong một mệnh đề chính của câu đầu tiên của công hàm PVĐ rồi.

Còn nếu PVĐ (hay HCM) muốn nói tôi chỉ ghi nhận và tán thành phần về hải phận 12 hải lý trong tuyên bố ngày 04/9/1958 của TQ thì Chính phủ VN phải viết (bằng tiếng Việt) như sau:

“Chính phủ nước VNDCCH ghi nhận và tán thành phần về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước CHNDTH. Riêng phần về lãnh thổ TQ bao gồm cả quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa của VN chúng tôi) và Nam Sa (Trường Sa của VN chúng tôi) thì chúng tôi xin không đồng ý và đề nghị đồng chí Tổng lý xem lại trên tinh thần “môi hở răng lạnh” mà Mao Chủ tịch đã dạy bảo chúng ta…

Hẳn đồng chí Tổng lý còn nhớ cách đây 4 năm ở Hội nghị Geneve đồng chí đã khuyên tôi cắt phần đất và biển đảo VN sau Vĩ tuyến 17 về phía Nam, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cho chính quyền ông Ngô Đình Diệm tạm thời quản lý, để sau này các đồng chí sẽ giúp chúng tôi xây dựng XHCN mạnh hơn rồi mới giúp chúng tôi lấy lại phần đất và biển đảo đó?

Về phần biển phía Bắc Vĩ tuyến 17, Chính phủ nước VNDCCH tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước CHNDTH trên mặt bể. ”

By the way, tiện thể, tôi rất ngạc nhiên khi thấy đến 1958 và ở cấp cao nhất (chính phủ) với các vấn đề quan trọng nhất (lãnh thổ, lãnh hải) mà chính phủ cả TQ và VN đều chưa áp dụng chế độ mã số công văn giao dịch nội ngoại để theo dõi, phân biệt, lưu trữ và bảo quản tài liệu, thông tin? Hay là chỉ có hai công văn (Tuyên bố 4/9/58 và công hàm 14/9/58) trên là ngoại lệ “ngoài luồng”, không do và không qua hệ thống văn thư của VPCP VN viết ra và lưu trữ? Việc này có thể kiểm tra khá dễ dàng nếu hai chính phủ muốn làm sáng tỏ?

Còn nhớ, có lần tôi đã hỏi ba tôi: Ba ơi, mấy ký mã hiệu trong góc giấy khai sinh của chị và con sao lại giống nhau dù chúng con được sinh ở hai thành phố khác nhau (HN và NĐ)? Ba tôi thú nhận: Hồi 1958, sau khi các con sinh ra, lúc đó ba là thư ký một nhà máy cơ khí ở HN và ba đã tự đánh máy giấy khai sinh của các con, tự cho số mã hiệu vào đó cho giống văn thư nhà nước, tự mua tem dán vào như là có công chứng… để các con có tiêu chuẩn làm sổ gạo cùng ba mẹ, không thì nhà ta đói to… Như thế có nghĩa là, năm 1958, ba tôi, một chiến sĩ quân giới tiểu đoàn 307, mới có tiểu học đã bỏ đi làm ở Ba Son, rồi đi bộ đội, còn biết cho mã số vào giấy khai sinh của chúng tôi cơ mà?…

Tại sao nói CPVN không thể phủ nhận hiệu lực pháp lý của công hàm PVĐ?Trước khi trình bày quan điểm của mình cho rằng dù CP CHXHCN VN hiện nay có nói gì thì công hàm PVĐ vẫn có hiệu lực pháp lý, tôi xin nói rõ mong muốn của cá nhân tôi cũng như của đại đa số người Việt Nam thôi, rằng giá mà công hàm PVĐ vô hiệu lực, hoặc giá mà không hề tồn tại công hàm PVĐ thì tốt hơn cho dân tộc Việt Nam. Nhưng chúng ta vẫn cần phải đối diện sự thực để vượt qua nó.

, công hàm PVĐ là một văn bản pháp lý quốc tế thể hiện quan điểm chính thức của Chính phủ VNDCCH, nay là CHXHCN VN mà PVĐ là Thủ tướng của cả hai chính phủ đó trong hơn 32 năm (1947-1975: VNDCCH, 1975-1979: CHXHCNVN) về một vấn đề quốc tế: về lãnh thổ và lãnh hải của TQ. Quan điểm đó tồn tại chừng nào chính phủ đó hay hậu duệ và/hoặc thừa kế của nó tồn tại mà không có công hàm pháp lý chính thức khác cấp cao hơn bác bỏ hay phủ nhận nó.

Hiện nay, hậu duệ thừa kế của VNDCCH là CHXHCNVN chưa có văn bản pháp lý nào cấp cao hơn công hàm cấp Chính phủ do người đứng đầu CP ký như công hàm PVĐ ngày 14/9/1958 phủ nhận công hàm PVĐ thì công hàm PVĐ năm 1958 vẫn hoàn toàn còn hiệu lực.

, dù nội dung công hàm 1958 của PVĐ là xác nhận chủ quyền của TQ đối với hai quần đảo HS và TS là nơi lúc đó không thuộc quyền quản lý của Chính phủ VNDCCH thì sự công nhận đó vẫn có hiệu lực pháp lý đối với chính phủ ra công hàm đó, bởi vì quan điểm là cam kết hoặc là niềm tin.

Ví dụ, khi Thủ tướng Cămpuchia tuyên bố xác nhận HS và TS là của TQ thì công hàm đó có hiệu lực pháp lý không? Có. Chính phủ Campuchia có thể nói: “Vì tôi không quản lý HS và TS nên những gì tôi nói về HS và TS là không có giá trị pháp lý!” Không? Không! CP Campuchia cam kết gì qua tuyên bố đó? Họ cam kết rằng khi cần hành động liên quan đến HS và TS họ sẽ tuân theo ý muốn của TQ mà họ coi là chủ của HS và TS. Như thế, tuyên bố đó vẫn có giá trị pháp lý và Chính phủ Campuchia phải chịu mọi trách nhiệm về tuyên bố đó của mình. Nếu họ giữ nó – quan hệ với VN sẽ sứt mẻ có hại cho Cămpuchia, nếu không giữ nó, quan hệ với TQ sẽ sứt mẻ, sẽ không có 20 tỷ đôla viện trợ của TQ nữa… cho đến khi họ chính thức thay đổi quan điểm đó.

, trong trường hợp công hàm PVĐ năm 1958 của VN, VN không chỉ là bên thứ ba thể hiện quan điểm về vấn đề/sự việc của các bên khác, mà VN (DCCH) luôn tự tuyên bố mình mới là “kẻ thừa kế chính thức” lãnh thổ của chính phủ VNCH – tức là CP VNDCCH là “kẻ có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan”, lại càng không thể chạy trốn trách nhiệm và tuyên bố những gì mình nói là vô giá trị pháp lý.

, công hàm PVĐ là một công văn ngắn chỉ có hai câu và nội dung rất chung chung chỉ nhằm ghi nhận và tàn thành Tuyên bố ngày 4/9/1958 của TQ mà thôi, và bất kỳ chính phủ nào ký nó cũng phù hợp và cơ lợi cho TQ, và sự tán thành đó có thể có hiệu lực vượt thời gian. Ví dụ, nếu thay PVĐ và CPVN bằng Hunsen và CP CPC (hay Kim và CP Bắc TT…) thì ta có “công hàm” như:

“Kính gửi: đồng chí Chu Ân Lai
Tổng lý Quốc vụ viện nước CHNDTH
Kính thưa đồng chí Tổng lý,

Chính phủ nước Campuchia Dân chủ/CHNDTT ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước CHNDTH, quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước CPC DC/CHNDTT tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước CHNDTH trên mặt bể.

Hunsen/Kim
(đã ký và đóng dấu)
Thủ tướng Chính phủ nước CPC DC/CHNDTT”

Tức là ai ký cũng được, chỉ cần có người ký. Tức là công hàm này có thể đã được ai đó viết sẵn cho PVĐ ký thôi.

Đó là chưa kể, cách hành văn không phải của người Việt của hai câu văn duy nhất của công hàm PVĐ đều giống nhau đó là cấu trúc câu hai mệnh đề chính trước phụ sau (người Việt thích nói phụ trước chính sau) và tách biệt nhau cộc lốc bởi dấu phẩy (người Việt sẽ thích dùng liên từ để nối hai mệnh đề cho câu văn mềm dẻo đi như “với”, “về” (cho câu đầu) hay bỏ dấu phẩy nếu không cần thiết (cho câu sau).

Tất cả những điều trên chỉ ra rằng, không chỉ nói một công văn nòa đó vô hiệu lực là nó vô hiệu lực. Nếu TQ dựa trên công hàm 1958 của PVĐ để “chứng minh” cho chủ quyền của họ đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước Tòa án quốc tế, và bên nguyên đơn là chính phủ CSVN chính là kẻ đã ra công hàm đó, thì cái lý, cái chính nghĩa tất nhiên không còn thuộc về VN nữa, vì đã là kẻ viết và ký công hàm 1958 tự bán nước đó rồi.

Thế cho nến, vấn đề ở đây là không chỉ là kiện TQ mà còn phải là ai kiện TQ – Chính phủ CSVN hay chính phủ khác của nhân dân VN? Bởi vì, đã là kiến thì không kiện được khoai, phải là đá…

Ai có thể phủ nhận tính pháp lý của công hàm PVĐ 1958?Câu trả lời khá đơn giản, đó là chính phủ thừa kế và là hậu duệ chính trị của chính phủ đã quản lý HS TS và phản đối TQ đến cùng (bằng hành động chiến đấu bảo vệ HS) – chính phủ VNCH. Có nghĩa là, đó sẽ không phải là chính phủ CSVN hiện nay hay các biến thể trá hình của nó nếu có sau này. Có nghĩa là, đó sẽ phải là một chính phủ hậu cộng sản, một chính phủ dân chủ.

Nhưng nếu đó sẽ là một chính phủ hậu cộng sản, một chính phủ dân chủ của VN sau này, thì để đòi lại HS TS họ có cần phủ nhận công hàm PVĐ nữa không? Không. Cùng với sự sụp đổ của chính phủ cộng sản, mọi cam kết, thỏa thuận hay quan điểm của chính phủ CSVN với TQ tự động trở nên vô hiệu lực pháp lý. Lúc đó, TQ (nếu còn) thì cũng không thể dùng các loại thỏa thuận kiểu công hàm 1958 hay cam kết thành đô 1990 của đảng CSVN để xâm chiếm biển đảo và lãnh thổ Việt Nam được nữa.

Mọi điều cuối cùng đều dẫn đến một điểm đầu tiên: để bảo vệ lãnh thổ đất nước và tương lai Việt Nam đầu tiên phải hạ bệ chính phủ CSVN trước hết và thay bằng chính phủ dân chủ chính danh do toàn dân hơn 90 triệu người Việt khắp năm châu bầu ra để đại diện họ thừa kế non sông đất nước, lãnh thổ quốc gia mà dân tộc Việt Nam đã để lại cho đời sau, thì 90 triệu người Việt mới có thể cùng nhau đòi lại Hoàng Sa và một phần Trường Sa, và ải Nam Quan, thác Bản Giốc… từ tay Trung cộng mà CSVN đã cống nạp mới gần đây.

Phan Châu Thành
danlambaovn.blogspot.com

About these ads

This entry was posted in Áo Trắng ơi. Bookmark the permalink.

GỬI PHẢN HỒI

BÀI MỚICó đúng Công hàm Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958 vô hiệu lực?Viết trang sử mớiThêm một nhà hoạt động bị côn đồ tấn công gây thương tích nặng nềLòng yêu nước bị chà đạp và cung cách làm việc của công an CSVNBuồn cười, thỉnh nguyện thưVải thưa che mắt ai?CSVN liệu có biết: xấu hổ, hối hận và ngậm ngùi?Trung cộng được và mất gì trong biến cố giàn khoan HD-981?Cáo Phó và Tuyên cáo của Gia Đình Phật tử Việt Nam (GĐPTVN) về cuộc tự thiêu của Huynh trưởng Đồng Xuân Lê Thị Tuyết MaiFBI Đã Truy Lùng 5 Tin Tặc Trung Quốc Như Thế Nào?Bình thường và bất bình thườngĐổi chác tệ hại với Việt NamBí mật không thể bị mấtPhật tử GHPGVNTN tự thiêu để bảo vệ Đạo pháp, chống Trung Quốc xâm lượcTuyên cáo của Hội đồng Lưỡng Viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất về việc Trung quốc vi phạm lãnh hải Việt NamCơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) – cơ hội cho những nhà hoạt động Việt Nam?Trung cộng: không cần phải đánh Việt Nam chúng nó!!!???Quyền Biểu TìnhNhững di sản làm chạm nọc người cộng sảnCông nhận tính phi pháp của công hàm 1958 rồi sao nữa?Kết hợp “thế” và “lực”, để cứu nước và cứu mình! – Gửi tới những người CS và người “theo” CSTrung Quốc ép dân Việt ký tên vào bản đồ ‘lưỡi bò’“Hữu nghị viển vông, lệ thuộc”… quả bồ hòn đã thực sự nhè ra chưa?AP: In Vietnam, Rare Self-Immolation Highlights Anger Against China * Tại Việt Nam, cuộc tự thiêu hiếm hoi làm nổi bật cơn giận chống Trung cộngViệt Nam đối đầu Trung Quốc: Người thuyền trưởng đã chìm theo tàu của mìnhVN bác bỏ Công hàm Phạm Văn ĐồngĐừng gọi Việt Nam Cộng Hòa là ngụy nữa nhéPhẫn nộ hãng tin uy tín Nga xuyên tạc lịch sử, vu khống Việt NamViệt Nam Thất bại trong quá khứ và bài học cho hôm nayVũng Áng, Bình Dương là hậu quả của món nợ 20 năm mà Nhà nước cứ khất lần này qua lần khác với người dânMạn đàm về “sai lầm chính trị”NÓNG: Sài Gòn – Tự thiêu trước Dinh Độc Lập 23/5/2014Việt Nam – Hậu HD981Việt Nam, một con giun đang quằn quại dưới lưỡi cày Trung QuốcHai bước cần thiết“Công hàm Phạm Văn Đồng làm lung lay yêu sách chủ quyền của Việt Nam”Can đảm làm nên lịch sửChủ trương của ngành công an đưa tôi đi trại phục hồi nhân phẩmSợi xích nào trói chặt Hà Nội vào Bắc Kinh?Người Việt Nam ơi! Coi chừng nó đó!Khi công an biết cầu Trời khấn Phật !?Ông Hạ Đình Nguyên! Ông giết lâm sàng công cuộc chuyển biến sang thể chế tự do dân chủ đa đảng tại Việt Nam rồi!Bộ mặt hèn của Phùng đại tướngKhông thể ngồi yênKể chuyện biểu tình yêu nước ngày 18/5/2014Thế nước biến: Đảng cộng sản phải ra điĐẹp lòng kẻ xâm lược, nỗi đau của nhân dân, của lịch sử Việt NamLòng đau đớn khi con nhìn người mẹ trong cơn đau quằn quạiHãy giật mìnhBÌNH LUẬN TIN TỨC: CSVN công nhận Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Trung CộngLƯU TRỮTháng Năm 2014Tháng Tư 2014Tháng Ba 2014Tháng Hai 2014Tháng Một 2014Tháng Mười Hai 2013Tháng Mười Một 2013Tháng Mười 2013Tháng Chín 2013Tháng Tám 2013Tháng Bảy 2013Tháng Sáu 2013Tháng Năm 2013Tháng Tư 2013Tháng Ba 2013Tháng Hai 2013Tháng Một 2013Tháng Mười Hai 2012Tháng Mười Một 2012Tháng Mười 2012Tháng Chín 2012Tháng Tám 2012Tháng Bảy 2012Tháng Sáu 2012Tháng Năm 2012Tháng Tư 2012Tháng Ba 2012Tháng Hai 2012Tháng Một 2012Tháng Mười Hai 2011Tháng Mười Một 2011Tháng Mười 2011Tháng Chín 2011Tháng Tám 2011Tháng Bảy 2011Tháng Sáu 2011Tháng Năm 2011Tháng Tư 2011Tháng Ba 2011Tháng Hai 2011Tháng Một 2011Tháng Mười Hai 2010Tháng Mười Một 2010Tháng Một 2010

TÌM KIẾM

Search for:

ĐỌC NHIỀU NHẤTBình thường và bất bình thườngĐổi chác tệ hại với Việt NamBí mật không thể bị mấtÔng Trần Dần TIÊN ĐOÁN SỰ GIẢI THỂ ĐẢNG CỘNG SẢN ĐỘC TÀI VN DO DÂN LẬT ĐỔCó đúng Công hàm Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958 vô hiệu lực?Vải thưa che mắt ai?Phật tử GHPGVNTN tự thiêu để bảo vệ Đạo pháp, chống Trung Quốc xâm lượcFBI Đã Truy Lùng 5 Tin Tặc Trung Quốc Như Thế Nào?Những di sản làm chạm nọc người cộng sảnViết trang sử mớiCHUYÊN MỤCAudioÁo Trắng ơiBang GiaoBình LuậnBiếm HọaKinh TếNhạcPháp LuậtPhiếm LuậnQuan điểmSức KhỏesbtnTâm ThưTôn GiáoTự Do Dân Chủ Cho Việt NamTin Thế GiớiTin Việt NamVideosĐọc Báo Vẹm

Blog at WordPress.com. The Coraline Theme.


Người phụ nữ Thép’ tranh chung quyết bầu cử tổng thống Lithuania



Tin tức / Thế giới / Châu Âu

‘Người phụ nữ Thép’ tranh chung quyết bầu cử tổng thống Lithuania

Bà Dalia Grybauskaite hứa trong cuộc vận động tranh cử rằng bà sẽ không rút lui trước sự xâm lấn của Nga.
Bà Dalia Grybauskaite hứa trong cuộc vận động tranh cử rằng bà sẽ không rút lui trước sự xâm lấn của Nga.

CỠ CHỮ- +
Lithuania tổ chức vòng bầu cử tổng thống chung quyết hôm nay, Chủ nhật.  Ứng cử viên dẫn đầu cuộc đua này là đương kim tổng thống, được mệnh danh là “Người phụ nữ Thép” Dalia Grybauskaite của quốc gia thành viên của NATO và Liên hiệp Âu châu này đang chú tâm đến những lo ngại về an ninh liên quan đến việc Nga đang nổi lên lại.

Tổng thống Grybauskaite giành được nhiều phiếu ủng hộ trong vòng đầu phiếu thứ nhất diễn ra cách đây hai tuần trong cuộc bầu cử tổng thống lần thứ sáu của quốc gia Baltic này, nhưng không đạt đủ tỉ lệ đa số quá bán để giành chiến thắng dứt khoát.

Ủy ban bầu cử Lithuania cho biết bà Grybauskaite, một cựu ủy viên ngân sách của Liên hiệp Châu Âu, giành được 45% số phiếu trong vòng đầu phiếu thứ nhất. Đối thủ của bà là ông Zigmantas Balcytis theo phe dân chủ xã hội trung tả.

Cuộc bầu cử diễn ra giữa lúc Nga sáp nhập bán đảo Crimea của Ukraine.

Lithuania bị Nga cai trị trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Tổng thống Grybauskaite hoan nghênh sự có mặt của binh sĩ NATO tại Lithuania kể từ khi tình hình bất ổn nổi lên ở Ukraine.

Nữ tổng thống đương nhiệm 58 tuổi có đai đen karate này đã hứa trong một cuộc vận động tranh cử rằng hành vi gây hấn của Nga không dọa nạt được bà, và chính bà sẽ “cầm súng lên để bảo vệ đất nước, nếu đó là điều cần thiết cho an ninh quốc gia.”